Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013


VỰC NHỚ
Thơ Lãng Hiển Xuân
Cho mùa Thu
Kẻ si tình trượt dài xuống đáy sâu vực nhớ
Đáy vực
Là muôn vàn mảnh vỡ của bao trái tim
Những trái tim yêu
           cuồng dại thủy chung
tội lỗi và chân thật...
Những trái tim qua bao nhiêu lần tất bật
Tất cả cùng tụ họp về đây sau những cuộc kiếm tìm…
.
Không biết mình là ai hắn miệt mài sắp xếp
Những mảnh vụn đã vỡ dưới vực sâu
Những mảnh vụn đã lẫn lộn vào nhau
Những hình hài không có trong đời thực
Những sắc màu cũng không có trong đời thực
Một việc làm chỉ có dưới đáy vực
Một việc làm chỉ có trong tâm thức người điên…
.
Vượt lên tất cả những bon chen
Để lao xuống vực hư không tăm tối
Sắp xếp lại những mảnh đời đen trắng
Dẫu biết chỉ  những ngộ nhận đớn đau…

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Lời của đêm



Lời của đêm

Lãng Hiển Xuân

Những cơn gió lồng lên
Rú rít ngoài ô cửa kính
Trên độ cao ngàn mét
Như những khúc nhạc đêm của loài thú đi hoang.

Căn phòng vắng thênh thang
Chẳng gợi lên điều chi ngoài những ký tự rời rạc rỡ ràng như sương khói...

Vắng em
Giấc mơ xưa
Ẩn hiện trong những phận buồn lam lũ
Quầng sương trắng
Khúc xạ bao nỗi niềm chẳng có tên
Mỗi gốc cây già
Cứ xù lên những nốt u nần của thời gian đã mất
Gửi từ quá khứ
Những thông điệp
Trong từng que củi
Đốt lên từ bàn tay của con người...

Đi qua đêm
Những cơn gió cứ gào lên những gì như là bi thiết
Gửi cho nhân loại
Trầm tích của ngàn triệu năm
Đi qua đêm
Những ý nghĩ
Được thắp lên từ tàn tro của điếu thuốc
Chẳng thể sáng lên đến một tương lai...

Vắng em
Bảng lảng tôi
Và bảng lảng khói sương
Con dốc dài quanh co mệt mỏi
Làm sao tới đỉnh
Khi thiếu vắng một niềm yêu..!
LHX.

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Bài của năm trước: Bước chân trần trên than hồng cuộc lữ.




Bước chân trần trên than hồng cuộc lữ…
 
Lãng Hiển Xuân
Cũng là một người chơi và sống trong môi trường của giới làm nghệ thuật ở Huế, nhưng ngay từ lần gặp đầu tiên, hắn đã nhảy vào trong trí nhớ của tôi rồi ngồi luôn ở trong đó. Mặc dù trong hơn chục năm qua hắn vẫn đang lầm lũi bước đi trên đám than hồng của cuộc lữ thứ đời hắn…Có người bảo đó chỉ là một cuộc đào thoát quá khứ, nhưng với tôi, đó chính là một cuộc dấn thân thực sự của con người nghệ sĩ rất đương đại ở trong hắn. Cũng trong cuộc lữ ấy, từ là một Tuấn điêu khắc tự nhiên trở thành thằng Tuấn “nghiện”, rồi đang trong cuộc lang thang hắn lại bỗng nhiên thành Tuấn Sư trong sự ngỡ ngàng của bạn bè….rồi một ngày kia, sau cuộc triển lãm “A! Bụt…!” hắn lại trở về thành “Gã họa sĩ” Tuấn…và tiếp theo là một chuỗi…những ngày lao động nghệ thuật miệt mài trên mảnh đất Kinh Đô cũ…
Dấn thân…
Vừa tốt nghiệp trường ĐH Mỹ thuật “Yết Kiêu”, hắn đã được tham gia vào nhóm làm tượng đài lớn nhất Việt Nam ở trên Sông Đà. Phải chăng cuộc đời đã mỉm cười với hắn ngay từ cái nhìn đầu tiên! Khá “bô trai” với cái mũi đẹp và to hơn so với tỷ lệ của khuôn mặt, lại thêm có cái “mác” mới vừa tốt nghiệp ở một trường rất “kiêu” của giới làm nghệ thuật Hà thành nên trong các cuộc chơi chung hắn bao giờ cũng dễ được ngồi ở một “ghế trên” của đám bạn cùng trang lứa…Vốn là con trai một nên được gia đình nuông chiều chăm bẵm. Ra trường ngay từ những ngày đầu tiên đã được cuộc đời ưu ái, nên phải nói là hắn cũng đủ nguồn để mà tha hồ vung vít, mà “kiêu bạc” với cuộc đời. Chính điều này đã đưa hắn tới một cám dỗ khác của “Nàng tiên nâu” lúc nào cũng không rõ nữa. Khi kể về những ngày tháng ngập trong đó, hắn chao chát: “Cứ tưởng mình không thể vượt qua khỏi được nó và luôn bị vây bủa ám ảnh bởi cái chết!”
Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế…Bởi ngay cả trong những cuộc chơi mà độ khoái của cảm giác có lên tới ngút ngàn tận mây xanh đi chăng nữa thì con người ta vẫn cứ rơi vào ngõ cụt khi vẫn chưa hiểu được ý nghĩa và mục đích của cuộc sống! Mọi sự vay mượn từ bên ngoài để tạo một cảm giác và hứng thú sáng tạo đều không thể giải quyết hết được những khát khao thao thức về thực tại của một con người nghệ sĩ đích thực. Chính điều này cũng đã làm cho không biết bao nhiêu người làm nghệ thuật hiện nay bị rơi vào trong những bế tắc của sự sáng tạo, để rồi từ đó sa vào đủ mọi vòng xoáy khác của cuộc đời với những ngộ nhận không thể vùng thoát ra được. Cũng đang ở trong vòng xoáy ấy với những ám ảnh thường trực của cái chết, hắn chợt nhận ra, cái môi trường mà hắn đang ngập ở trong đó cũng chính là thủ phạm đang trói buộc tâm hồn nghệ sĩ của hắn.
Rồi như là một sự tình cờ tiên định, hắn lướt qua Huế, xứ sở của cơ man là những ngôi chùa cổ kính, những đền đài lăng tẩm trầm mặc…chợt nhiên đã làm hắn tỉnh thức. Quẳng lại phía sau lưng tất cả những xa hoa bụi bặm, những khẩu quyết của giới giang hồ nghệ sĩ Hà thành, những phút phá đời trong quằn quại men tiên…hắn xuống tóc vào chùa…Đi Tu!
 
Chùa trên núi…và sự cô đơn “tuyệt đối”!?
Thuở sơ khai con người đã phải luôn đối diện với sự sợ hãi và chẳng bao giờ biết sự sợ hãi ấy bắt nguồn từ đâu. Dù đến bây giờ khi khoa học kỹ thuật đã phát triển đến mức chinh phục được cả không gian vũ trụ nhưng sự sợ hãi nguyên thủy ấy vẫn còn nguyên đó trong mỗi bản thể nhân loại này. Chỉ có những ai đã từng thực sự đối diện với cái chết, đã từng vật vã với nó và còn phải có mang trong mình một chút nền tảng triết lý sống nào đó mới nhận chân được sự sợ hãi ấy. Phải chăng do nhân duyên thiên định hay vì lý do nào khác nên khi hắn xuống tóc vào chùa đi tu mới được mang vào mình cái Pháp danh Chơn Mỹ!
Hồi ấy, Huyền Không Sơn Thượng, một cái chùa cheo leo trên núi Chầm đã lưu dấu những tháng ngày hắn thực sự vật vã sống, vật vã tồn tại, vật vã cô đơn, vật vã đối diện với bản nguyên của chính mình. Chẻ củi nấu cơm, đói ăn khát uống, lao động cật lực ở một nơi khá hoang sơ và ở trong giáo pháp mà việc ăn thì một ngày chỉ được ăn có một bữa đúng Ngọ của dòng tu chùa này. Chưa hết, những lúc sau buổi kinh tối, trở về với cái cốc vắng nhỏ bé trong khu rừng núi tịch mịch, nằm đối diện với bóng tối, đối diện với những cơn vật vã của tháng ngày vung vít luôn đeo bám để lôi kéo hắn…Rồi trong từng khoảnh khắc, cái chết lại ùa đến dụ dỗ hắn trong một sự cô đơn đến cùng cực. Đã có lúc hắn muốn bỏ cuộc bởi còn thỉnh thoảng bắt gặp đâu đó, ngay cả ở trong chùa, những điều thị phi mà dưới chân núi kia đầy rẫy. Nhưng khi bắt đầu vào thiền và đối diện với chính mình, dù đang ngồi trong bóng tối, lấy ánh sáng của đạo để soi và để đối thoại thì hắn lại nhận ra thêm được chân lý để mà đi tiếp.
Hắn kể với tôi, dù đã bao lần trải qua những cuộc tàn phá thân xác của mình, nhưng trong một lần đi khất thực giữa trời buổi trưa nắng nóng mà vẫn phải đi chân trần, một người dân ăn vận đàng hoàng sạch sẽ đến “cúng dường” cho hắn, người đó làm thủ tục lễ bái quá lâu đã làm cho đôi chân trần của hắn bỏng rát trên đường nhựa mà hắn vẫn không hề dám nhúc nhích. Phải chăng đó mới chính là hạnh phúc của người học đạo!?
Những tháng ngày tu tập ở trên chùa Huyền Không ấy, một đôi lần hắn cũng được làm tượng, cái nghề mà hắn đã yêu thích từ thuở nào. Nhưng những cái đôi lần ấy cũng chỉ là một trong những khoảnh khắc hiếm hoi trong hành trình tu tập của hắn. Dù bức tượng đã lên trên mẫu đất rất đẹp nhưng rồi cũng chẳng lưu lại được ấn tích bởi sự vô thường trong thế giới quan khi ở tại chùa lúc đó. Hình như ảnh của bức tượng ấy cũng có được lưu ở đâu đó trong chiếc máy ảnh của một người bạn của hắn.
 
Sự trở về, hay khởi đầu của một hành trình khác!
“Cần phải đủ cô đơn để sáng tạo…” ai đó đã nói như vậy! Để đánh dấu cuộc trở về, hắn và họa sĩ Phan Hải Bằng đã làm một cuộc triển lãm tranh sơn mài chung mang tên “Song Nam tại Galery XQ Cổ Độ, Khách sạn Century Huế trong dịp Festival Quốc tế Huế 2006. Mặc dù tranh sơn mài không phải là sở trường của hắn, nhưng ở trong chất liệu này hắn mới tìm thấy được cái phương tiện để chuyên chở những suy tư, những trăn trở, những thắc mắc…của hắn trong cuộc sống phù sinh này.
Cuộc trở về của hắn đã được Sư phụ Minh Đức Triều Tâm Ảnh buông bằng câu: “Con đến minh bạch và con đi cũng minh bạch. Thầy rất hài lòng vì con”.
Huế vào Thu 2011
LHX

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Phải chăng, mỗi chúng ta ai cũng có một CỤC ĐÁ ở trong đầu!?!?






ĐIÊN CHỮ



Truyện ngắn của Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Người đàn ông ốm xanh, tóc rối bù ngồi trong chiếc giường tối, hai mắt sâu hoắm nhìn bất động một vật gì phía trước. Căn phòng hẹp, trần thấp bằng carton vàng bám đầy bụi; sách vở, bút mực để bừa bộn, lỉnh kỉnh; tượng Phật Thái màu đồng hun lồng trong khung kiếng dựa lưng cuốn tự điển dày. Bên cạnh, một kệ sách to và dài quá cỡ đóng bằng gỗ tạp được chất lên đủ thứ đủ loại như một tiệm sách phố huyện miền quê. Trên đầu kệ, sát trần, nằm khoanh mấy cuộn giấy tròn, báo chí mọt gián phế thải; hai ống sáo nằm buồn phiền không có bạn tri âm; một khúc trầm hình dáng con cò (hay con hạc) đang ngửng đầu nhìn ngơ ngác bức tượng Đạt-ma bên kia tường đối diện được ghép bởi mấy thanh tre đen còn nguyên lá khô; một dấu hỏi to bằng phấn than ôm nửa thân tượng thả dài theo chân tường một cách mệt mỏi, rồi kết thúc bằng một dấu chấm đỏ được cắt từ nhãn hương. Đằng sau dấu hỏi, bằng các loại phấn màu, được vẽ nhỏ hơn, nhỏ dần là những dấu hỏi kéo dài đến vô tận. Cửa lớn nhìn ra vườn hoa phô lưa thưa mấy bụi tường vi điểm hoa màu hường và trắng khói; năm bảy chậu kiểng đứng và ngồi rải rác như vừa từ đâu đó về sau một cuộc tản cư...
Buổi chiều vàng đục, mưa lay bay, gió lất phất. Thỉnh thoảng có chiếc xe hơi chạy qua con lộ dẫn vào thành phố. Tiếng máy phóng thanh trên mấy trụ đường vọng lại khi tục khi đoạn...
Con chó vàng gầy ốm từ đâu đó chạy về nằm soải trước cửa, thè lưỡi, thở; những hạt mưa bụi dính lưa thưa trên lông không đủ ướt.
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
Tiếng người đàn ông từ bên trong vọng ra. Con chó giật mình bỏ chạy. Đến cổng ngoài, nó quay đầu lại, vẫy đuôi, ngơ ngác. Hồi lâu, con chó vàng đủng đa đủng đỉnh đi vào, đứng yên, nhìn lơ ngơ qua cửa. Có lẽ là thấy chẳng có gì nguy hiểm, nó lại nằm xuống, thè lưỡi, thở...
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
Con chó vàng lại hối hả vọt chạy, vòng vào căn nhà bên sau. Gần cánh cửa, bên ảng nước, một người đàn bà trẻ, tóc ngắn, vận chiếc áo cánh bông nội hoá đang giặt áo quần trong chiếc thau nhôm; vòi nước được mở ra từ chiếc bể cạn đậy bằng hai tấm tôle, tiếp giáp là bức tường vôi xám cao ngút mắt. Mây mỏng bàng bạc cả trời. Hình như có tiếng thở dài rất khẽ của thiếu phụ hoặc là tiếng xào xạc của lá bởi luồng gió nhẹ vừa thoảng qua. Thiếu phụ lấy vạt áo dụi mắt, những sợi tóc mai vương rối loạn trên gò má xanh. Con chó vàng đứng đó đã lâu, lặng lẽ, bây giờ nó bước tới lấy đầu dụi dụi bên lưng thiếu phụ.
- Đi ra.
Thiếu phụ quát khẽ, lấy cùi chỏ hất đầu chó rồi đứng dậy,  nghiêng chân đá con chó một phát! Chó kêu ăng ẳng, ngơ ngác một hồi rồi cong đuôi chạy ra lối cũ. Một nhà sư trạc ngoại tam tuần, to lớn, da ngăm đen, khoác chiếc y màu hung sẫm, bước vào với những bước dài. Con chó vàng lại thụt lùi vào cửa, gầm gừ...
- Chà! Sư! Thiệt là lâu ngày!
Tiếng nói loáng thoáng niềm vui. Thiếu phụ rửa vội tay rồi đứng lên, nụ cười duyên dáng làm cho đôi má xanh chợt ửng hồng. Nhà sư đứng dựa bên ngoài cánh cửa, bát mang trên vai, mưa lấm tấm từng hạt bụi trên y. Con chó vàng đưa mũi hửi đôi chân đất lấm bùn của khách lạ.
- Chào chị! Hai cháu đi đâu cả mà không thấy hở chị Hạc?
Thiếu phụ mang ra chiếc ghế đẩu đặt dưới hiên, dáng dấp nhanh nhẹn và dịu dàng.
- Các cháu bị bà ngoại bắt cóc hết rồi sư ạ! - Tiếng nói, hơi thở, ánh mắt của thiếu phụ như xoắn vào nhau - Mời sư ngồi. Ngồi tạm đây một chút cái đã. Chà! Bả nói, bọn bây có nuôi nổi cháu tao không, nhà quê cơm liền kiềng, cá lang cang mà còn có chất cám, chất đạm, bảo đảm săn thịt, chắc xương đó nghe! - Thiếu phụ cười nhỏ - À, nhà sư đi đâu mà chẳng có dù, có áo chi hết trơn hết trọi vậy?Nhà sư ngồi xuống ghế, tháo bát để trên chân, tiếng nói ồm ồm như lệnh vỡ:
- Anh Hạc trở bệnh bao lâu rồi chị?
- Dạ, đâu chừng mươi hôm - Thiếu phụ thở ra, ngồi ghé nơi bục cửa, mắt nhìn ra xa: một cây đầy hoa tím đong đưa đầu ngõ; trời u ám, vàng đục; con chó từ đâu đó trở về nằm lặng lẽ ởõ bên chân - Từ hồi năm ngoái tưởng đâu là lành hẳn luôn, ai ngờ!
Tiếng máy phóng thanh từ đường vọng lại... bội thu, năng suất, vượt kế hoạch, vượt chỉ tiêu... Một cơn gió gỡ hai ba chiếc lá vàng ném xuống sân trước. Hai con chim mỏ đỏ sà xuống vườn hoa. Thiếu phụ ngồi ôm gối. Hình như trên mặt nàng có rây một lớp bụi thời gian, vàng xanh và mệt mỏi...
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
Tiếng người đàn ông lại vọng ra, rõ mồn một.
- Đó, đó! Thiếu phụ nhìn nhà sư - Chẳng biết cái cục đá nào mà ảnh đòi quăng miết!
Nhà sư nhíu mày. Có tiếng gà gáy ở xa xa, tiếng xe động cơ nổ rồi sau đó, tiếng chuông nhà thờ đổ hồi. Mưa lay bay, trời mát dịu.
- Anh Hạc có nhớ chi không chị?
Có cái gì long lanh trong mắt của người thiếu phụ.
- Hôm bà ngoại lên, thiệt lâu ảnh mới nhớ. Má, má, quăng cục đá ra ngoài!
Thiếu phụ cười khẽ, man mác, xoa xoa hai cánh tay để trần, gầy guộc trắng.
- Mấy lúc này sư ở đâu?
- Dạ, lúc này ít đi đâu được. Từ hồi về quê đến giờ chỉ có việc cuốc đất trồng khoai, trồng rau thôi; lại có phụ thêm cái nghề trồng thuốc nam. Bệnh nhân họ quẩn bên chân chị ạ. Vả lại, giấy tờ, xe cộ...
- Dạ, hèn gì lúc này trông sư như ông lực điền, hồi xưa nho nhã...
Nhà sư cười dòn:
- Tôi mà nho nhã... Hồi ở Đại học Vạn Hạnh, quý vị đã không chọc ghẹo tôi là ông nhà quê một cục, một hòn đó sao?
Thiếu phụ cũng cười:
- Nhưng sư được mọi người tin cậy. Kính mến và tin cậy. Ngay chính anh Hạc, ảnh điên vì chữ nghĩa, nhưng hễ cứ gặp sư, anh lại tỉnh.
- Tỉnh chút ít rứa thôi! Nhà sư lắc đầu - cái bệnh ấy... khó lắm!
- Ảnh nói - Một câu hỏi, không giải mã được, đã điên rồi, huống hồ lại trùng trùng câu hỏi. Ôi, nhức cái đầu quá, nhức cái đầu quá!
- Tôi hiểu, tôi biết! - Nhà sư gật đầu nhẹ.
- Anh Hạc nói, quăng được một cục, cuộc đời lại nhét vô thêm hai cục, ba cục. Giải quyết được một câu hỏi, cuộc đời lại tròng thêm trăm câu hỏi, ngàn câu hỏi...
- Tôi hiểu, tôi biết!
Nhà sư lại đáp như cái máy, nhưng bây giờ lại có vẻ đăm chiêu, ba vệt nhăn cắt ngang vầng trán thấp. Có người khoác tơi bị thập thò bên ngoài cánh cửa, con chó vàng chồm ra, sủa inh ỏi.
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
Nhà sư nói:
- Chị cho phép tôi lên thăm Hạc...
- Sư có việc gì đâu mà vội. Một thân, một mình. Biết vậy, hồi xưa tôi cũng đi tu quách, giải thoát cái sự đời!
- Hồi xưa, ai cũng nói hồi xưa! - Nhà sư cười thành tiếng - Hồi xưa thì ai cũng dại, hồi nay thì ai cũng khôn!
Thiếu phụ nói như nguýt sau đuôi mắt:
- Thôi mà sư, nhạo chi tội!
- Ai cũng nói, giá mình được bắt đầu lại, giá mình được chọn lựa lại, sắp đặt lại, chị có thấy thế không?
- Dạ, thấy chứ, thấy mà cũng chịu. Lỡ rồi!- Mà ví dầu có chọn lựa lại thì một lúc nào đó, người ta cũng nói rằng, không, vậy là không được, phải bắt đầu lại, phải lựa chọn lại nữa. Hoá ra ai cũng có hai ba cuộc đời chứ không phải một!
Nhà sư nói như có nụ cười trong ánh mắt.
- Dạ! Nếu hồi xưa ai mà nói vậy chắc tôi không tin. Tưởng rằng nó sẽ khác đi!
Giọng thiếu phụ như cơn gió heo may, thoảng lạnh rồi xa!
Im lặng.
- Thế ra chị vẫn còn băn khoăn về cái gọi là mệnh số đời người! Lẽ ra chị phải thấy rồi chứ!
Thiếu phụ ra chiều tư lự, nhìn mấy ngón chân gầy xanh, sau đó, xoè bàn tay ra, nhìn những đường vận số giăng mắc chi chít như mạng nhện rồi khẽ nắm lại.
- Thôi thì cứ sống vậy, ngơ ngơ ngác ngác mà sống chứ không còn biết thế nào nữa cả. Sự trục nhãn tiền quá, lão tòng đầu thượng lai!
Thiếu phụ cười. Nhà sư cũng cười:
- Cử nhân văn khoa có khác!
Nhà sư đứng dậy:
- Một năm thì có bốn mùa, thời tiết theo đó mà thay đổi, thay đổi nào cũng tự nhiên và hợp lý. Đời người gẫm ra rồi cũng vậy. Chị nên để ý đến sức khoẻ, cho Hạc và cho mấy cháu.
- Dạ!
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
Nhà sư bước vào nhà trên. Thiếu phụ đi vào bếp.
Trong phòng, người đàn ông ngồi trong tư thế đầu cúi xuống, hai cánh tay bỏ thỏng, tóc rũ che nửa khuôn mặt. Nhà sư mở tung tất cả các cánh cửa, đến ngồi bên cạnh người đàn ông, ôm vai y, yên lặng. Tiếng con thạch sùng chắt lưỡi trong hóc tường.
- Anh Hạc! Anh Hạc!
Nhà sư cất giọng lớn, lay gọi. Hồi lâu, người đàn ông ngửng đầu lên, nhìn, đôi mắt vô hồn.
- Hạc! Hạc! - Y lắp bắp rồi vung nắm tay về phía trước: - Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
Nhà sư khẽ thở dài, vuốt lại mái tóc cho người đàn ông rồi đi về phía bàn viết, vô tình lật tới lật lui mấy quyển sách trên bàn phủ đầy bụi. Một trang giấy rời chợt rớt ra. Nhà sư lượm lên, đôi mắt đột nhiên nhìn đăm vào đó.
Nhà sư kéo ghế ngồi. Ở nơi trang giấy thứ nhất có hàng chữ viết bằng bút nguyên tử đỏ: “LÀM THẾ NÀO ĐỂ QUĂNG CỤC ĐÁ ẤY RA NGOÀI THẾ GIỚI?????” Trang giấy thứ hai được chép bằng mực đen, chữ nguệch ngoạc như gà bươi, như sau:
- “Tại sao cái ách trên cổ trâu?
Tại sao con ngựa lại đóng móng chân, đeo hàm thiếc?
Tại sao người ta lại xua đuổi đàn cừu vào thảo nguyên?
Tại sao Chúa bị đóng đinh? Cứu chuộc loài người hay bị loài người cứu chuộc?
Tại sao đức Phật thuyết pháp bằng chữ, bằng lời? Lại nói về cái gọi là như chân như thực?
- Nếu như thực là như thực thì xin thưa với Đức Như Lai Thế Tôn rằng, tại làm sao thằng cha hoạ sĩ Văn Hữu Đá kia lại vẽ cục đá có rêu trong mấy bức tranh thuỷ mặc lẩm ca lẩm cẩm của hắn? Cái đó là như thực hay không như thực? Và, tại làm sao mà trong cõi lòng đen đúa nặng nề hôi hám cầu xí chuồng phân của đệ tử lại nhiều cục đá lắm vậy, quăng hoài nó không hết? Vậy thì cục đá của hoạ sĩ Đá, cục đá trong bài thơ của nhà sư tu hú và cả cái đống đá nguyên xi không rêu của đệ tử, là một chăng? Là không một chăng? Quăng cục đá ra ngoài!”
Ở nơi góc cuối là bức tranh một cục đá với mấy nét phác thảo dị giản bằng mực tàu, dưới có chua mấy chữ:
- “ĐÁ KHÔNG RÊU, nghĩa là: Đá nguyên xi, đá niết bàn, đá bổn lai diện mục, đá nhất nguyên, đá tuyệt đối, đá chân như... ĐÁ CÓ RÊU, nghĩa là: Đá suối khe, đá trầm luân, đá sinh tử, đá tục lụy... Và do đó: đá đả đảo, đá đùng đùng, đá đú đởn, đá đong đưa, đá đỏng đảnh, đá đả đớt, đá điên đầu, đá đắm đuối, đá điên đảo, đá điêu đứng, đá đông đoài, đá đông độ... Tại sao đá? AI LÀ ĐÁ, NGÀN NĂM SAU SẼ HIỂU! Quăng cục đá ra ngoài!”
Nhà sư bỏ tờ giấy xuống bàn, bần thần nghĩ ngợi...

Một người đàn ông đội chiếc nón găng rộng vành, vai mang một chiếc đãy to, bước ào vào cửa cuốn theo hơi lạnh.
- Hoạ sĩ Văn Hữu Đá! - Nhà sư reo nho nhỏ.
- A, trời đất, đại huynh! - Y quăng cái nón vào góc, bỏ đãy xuống bên chân, tháo áo mưa mắc lên giá, hai tay vuốt vuốt mái tóc - Đệ vừa ở rừng về, trời ơi, chúng đệ vừa lập xong một thảo am thơ mộng, cạnh một dòng suối thơ mộng, những gốc cổ thụ bám đầy phong lan và rêu xanh thơ mộng. Thơ mộng và thiên cổ. Đệ có bảo thằng đệ-tứ-tà vân hành xuống nội kiếm đại huynh; thứ nhất là báo cáo công trình một đời, hai là xin huynh bố thí xăng nhớt. Ai ngờ đại huynh lại vào đây. Kẻ rừng xuống nội, kẻ nội vào thành. Đi lạc lung tung, vui dữ!
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
- Quăng đi đâu được – Văn Hữu Đá nói - Ông mà có quăng, có vứt, thì cái quăng, cái vứt ấy cũng là cục đá đó thôi!Hoạ sĩ kéo ghế ngồi. Nhà sư nhìn người bạn đồng niên: Y không thay đổi gì nhiều, chỉ có tóc và râu là dài hơn thường lệ; một chút an ổn và thoải mái toát ra nơi dáng ngồi hờ hững, nơi đôi mắt sáng và nụ cười đầy tự tin.
- Bạn có biết là Hạc trở bệnh chứ?
- Biết, có biết từ tuần trước!
- Thế hoạ phẩm lớn đến đâu rồi?
- Rồi, xong rồi!
Hoạ sĩ quăng gói thuốc Hậu Giang lên bàn, móc ở túi áo trên một điếu thuốc 555, mời:
- Đại huynh hút?
- Cảm ơn, bạn cứ tự nhiên.
Hoạ sĩ cười, châm lửa, hít một hơi sâu và không thở khói ra, khói đã mất tích đâu đó trong buồng phổi của hắn. Hoạ sĩ lim dim mắt, ngón tay gõ gõ lên bàn, lại vuốt tóc. Chợt y đứng bật dậy, lôi từ trong đãy ra một cuộn giấy, trải ra bàn, giọng háo hức, dồn dập:
- Nếu nghệ thuật trong cõi sơ huyền chỉ có một mảnh trăng non duy nhất, thì nghệ thuật của thời khuyết nguyệt cũng chỉ có một mảnh trăng non duy nhất. Giữa khép mở của hai cực tạo nên mối khốc liệt trần gian - là vì con người không nhìn thấy sự bất động duy nhiên giữa mọi hiện tượng, của mọi hữu tồn cá biệt. Cái cao tột và thâm viễn của nghệ thuật là phải đẩy tâm thức người thưởng ngoạn vào cõi sơ khai, huyền tính; ở đó là điểm bất động của không thời gian - khi chưa phân ly, chưa thoái hoá và xung đột. Phân ly, thoái hoá, xung đột bắt đầu từ khi nó từ chối sơ huyền để tìm về khuyết nguyệt. Giải thoát, chính là ở cái sát-na kỳ ngộ ấy, khi mình nhìn ra cái nguyên thuỷ của chính mình, cái quê hương mà mình thường trực chối từ!
Hoạ sĩ Văn Hữu Đá nói một hơi rồi đưa tay chỉ vào bức tranh:
- Đại huynh coi! Tác phẩm này là duy nhất và tối thượng, nó vượt bỏ mười ngàn năm nghệ thuật thế giới từ thuở con người còn ăn lông ở lỗ, vượt bỏ mười ngàn trường phái cổ kim kể từ mấy lần quả địa cầu sinh, quả địa cầu diệt. Đại huynh thấy chưa? Hề, hề! Giây phút này chính là giây phút gặp gỡ của vô cực! Hề, hề! Một triệu ngôi sao đã vỡ giữa trời cao! Hề, hề! Thế giới này sẽ tịch diệt khi họa phẩm thiên tài này ra đời, hà, hà!
Hoạ sĩ cười sảng khoái, bộ râu mép lưa thưa không ngừng nhúc nhích, đôi mắt y nheo lại sau làn khói thuốc. Nhà sư đứng dậy nhìn bức tranh, lâu lắm, không nói gì!
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
- Quăng đi đâu được - Hoạ sĩ nói - cục đá là cục đá thôi. Thế nào đại huynh? Có phải thiên cổ không?
- Thiên cổ!
- Hay! Phải thế chứ!
- Nhưng mà...
-  Ồ, đại huynh cứ nói, cứ phê, cứ tuốt luốt, cứ thẳng đuột.
- À, thì tôi nói, tác phẩm của bạn trông na ná tác phẩm của Hạc, không khác gì!
Nhà sư lấy trang giấy có mấy nét phác thảo cục đá của Hạc cho hoạ sĩ xem. Y la lên:
- A, kỳ không! Trong cơn điên, Hạc mới tỏ lộ được thiên tài. Còn đệ, đệ có thể đạt được nó với cái tâm bình thường. Bình thường thức, bình thường ý, bình thường cọ, ghê không!
Nhà sư cất giọng chậm rãi:
- Tôi bây giờ đã thật sự hủ lậu và quê mùa rồi, không còn kham nổi ngôn ngữ thiên tài của bạn nữa. Nói cụ thể, và là cái cần nói hôm nay, là về cục đá, cũng là căn bệnh của Hạc. Tôi có nghiên cứu về y đạo, y thuật, tôi biết, Hạc trở bệnh nặng, nó có liên hệ từ tác phẩm đá của bạn đấy!
- A! Đúng là lời buộc tội ghê gớm!
- Không ghê gớm lắm đâu, vì đó dường như là sự thực. Cái cục đá như thực, không rêu của Hạc và cục đá như thực, không rêu của bạn lẽ nào là sự ngẫu nhiên!Hoạ sĩ có vẻ trầm ngâm, y với tay lấy gói thuốc Hậu Giang, hút rồi nhả khói mù mịt.
- Ồ, có lẽ có. Đệ và Hạc quả là đã tranh luận với nhau không phải chỉ vài ba lần. Mà mãi, luôn luôn, về cái như thực ấy, về cái bổn lai diện mục ấy!
Im lặng khá lâu giữa hai người.
Thiếu phụ bưng khay trà lên. Trà Mai Hạc có hãm bông tường vi, thơm nhẹ và ấm cúng…
Hoạ sĩ chợt tằng hắng, đọc:
- “ Cục đá trong lòng ù lì, tráo trở
Cục đá bên ngoài rêu xanh mấy độ
Nặng trầm luân, sinh tử đã ngàn năm
Biết bao giờ hoá ngọc, thành trăng !”
Rồi nói: Thế còn cục đá của đại huynh trong bài thơ ấy phải giải thích làm sao, hở?
Nhà sư cười nhẹ:
- Ừ, phải rồi, cũng được! Chính những cục đá ấy - những cục đá bên trong và bên ngoài thế giới - những cục đá giữa chúng ta...
Hoạ sĩ cười sảng khoái:


 - Tốt! Y búng ngón tay một cái tróc - Luận đề về cục đá, luận án cục đá, hay lắm!
- Bạn đừng nhạo tôi!
- Không dám!
Hạc trên giường chợt bước xuống, đứng dậy đi mấy bước, vung nắm tay về phía trước, dõng dạc:
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
Hoạ sĩ nhại theo:
- Vứt thằng Đá ra ngoài! Vứt thằng Đá ra ngoài! Chi được! Vứt thằng này ra ngoài thì trái đất tan thành bảy mảnh còn gì!
Thiếu phụ chạy tới dìu Hạc ngồi lại chỗ cũ, lấy thuốc trên bàn mồi cho y một điếu. Hạc thở khói với đôi mắt lờ đờ. Trời vàng tối hắt bóng đêm vào phòng. Thiếu phụ bật đèn.
Nhà sư đặt bức tranh trước mặt hoạ sĩ:
- Bây giờ bạn hãy nhìn lại bức tranh của mình, bạn thấy gì?
- Thấy cái chân không - Hoạ sĩ nói, không cần nhìn - giả tỉ còn để lại khái niệm thì chỉ là một tảng đá không rêu, một vật thể đúng nghĩa nguyên thuỷ. Và ban sơ!
- Ồ, đúng lắm! Và như vậy có nghĩa là gì?
- Than ôi! Chẳng có nghĩa lý gì ráo trọi!
- Có đẹp không?
- Than ôi! Nếu nói đẹp thì hoá ra xúc phạm nghệ thuật quá đi.
Nhà sư gật đầu:
- Đấy là điều mà bạn bảo là duy nhất và tối thượng, là vượt bỏ mười ngàn năm nghệ thuật thế giới, là mấy triệu ngôi sao đã vỡ giữa trời cao! Ôi! Và đấy cũng là điểm cùng đích tuyệt vời của nghệ thuật, đạt cái bổn lai diện mục của vật thể, cái ù lì nguyên sơ chưa sinh hoá!
- Không chối cãi!
Hoạ sĩ đứng lên rồi lại ngồi xuống. Nhà sư nhìn đăm vào mắt bạn:
- Đấy là lằn mức cuối cùng mà nghệ thuật phải tự huỷ chính mình để nhảy vào thái hư. Hình tượng trên tác phẩm cuối cùng của bạn chứng tỏ gì? Chứng tỏ nghệ thuật đã chết!
- Phải rồi, không sai được!
- Và khi ấy, người ta còn gọi là nghệ thuật nữa chăng?
- Chẳng thể. Cáo chung!
Nhà sư chậm rãi nói:
- Bạn đừng mong rằng nghệ thuật là để diễn đạt tư tưởng, nhất là tư tưởng kiêu kỳ và thâm viễn của bạn. Tư tưởng muôn đời là cái tranh chấp, xung đột và ly tán. Nghệ thuật là cái đẹp vô biên giới, ở ngoài khách quan và chủ quan, chỉ để nhìn ngắm và cảm nhận vô ngôn. Tư tưởng là lý trí và tế bào não. Nghệ thuật  là con tim và cảm xúc. Và hết.
- Đệ hiểu chứ - hoạ sĩ nói.
Nhà sư nhíu mày:
- Bạn biết rất rõ thế mà bạn vẫn chơi cái trò điên chữ  ấy?
- Phải, điên chữ, đại huynh nói đúng! Phải điên chữ chứ - vì ở đâu, lúc nào cũng gặp những cục đá ù lì đáng ghét. Cái tụi sống trong thế giới vật chất đầy lông lá tiền sử đó mà!
- Tôi hiểu. Tôi biết - Rồi nhà sư nói khá nhiều, trong giọng nói hình như có sóng biển khơi mùa hạ, tiếng cơn gió phiêu lãng thổi qua hàng phi lao, tiếng còi tàu rúc lên từ các ga khói mù thiên lý - Bạn ạ! Từ lâu, Hạc bị vây bủa trong những câu hỏi mà chưa bao giờ Hạc hy vọng giải đáp nổi. Hạc bị tổn thương trầm trọng từ những như thực oái ăm và thống khổ của trần gian. Hạc đồng ý tất cả với bạn về những cục đá bên trong và bên ngoài thế giới. Tất cả, tất cả, Hạc chấp nhận như tiên thiên, nhưng mà, tự nơi con người trong sạch và hiền lương của Hạc không ngừng kêu réo, bất lực trước sự nô lệ mà con người tự tròng lên đầu lên cổ mình và tha nhân, ngoại vật. Tại sao cái ách trên cổ trâu? Tại sao con ngựa phải bị đóng móng chân và đeo hàm thiếc? Tại sao lại có các quan niệm hạnh phúc, hạnh phúc theo quan điểm của tôi chứ không phải quan điểm hạnh phúc của anh? Tại sao lại xua đuổi đàn cừu vào thảo nguyên?  Hạc bất lực trong cơn điên – điên chữ - thầm lặng. Còn bạn thì đi tìm sự giải thoát trong tác phẩm thiên tài của mình. Nhảy vào tác phẩm và tìm một vài phút giây kênh kiệu tự mãn là cứu chuộc thế giới rỗng không và bất toàn này!
- Ôi, quả thật là hư vô! Đại huynh thấm thía cái hư vô còn hơn cả đệ và Hạc nữa!
Nhà sư giọng chùng xuống:
- Tôi là một nhà sư tầm thường, dẫu các bạn hay nhạo tôi là tu tu hú, nhưng tôi biết chắc, tôi không bỏ cuộc, không đầu hàng hư vô. Dẫu chỉ còn một chút hơi thở và sự sống, tôi cũng cấy một đám rau, trồng một khóm thuốc, giữ cái trạm nhiên, không để cho những ngã ái, ngã kiến - những cục đá kiên cố, trơ mốc, ù lì, nặng nề thường làm cho chúng ta nghiêng lệch cán cân trung hoà tâm nội. Cục đá trong bài thơ của tôi là như thế.
Hoạ sĩ Văn Hữu Đá thở dài.
Căn phòng chợt yên lặng. Tiếng phóng thanh lại nổi lên... tăng gia, sản xuất, đánh thắng đói nghèo... Gió thổi vù vù qua cửa, hình như mang theo rất nhiều lá khô... Thiếu phụ khẽ thở dài…
Người đàn ông cất giọng dõng dạc:
- Quăng cục đá ra ngoài! Quăng cục đá ra ngoài!
M.Đ.T.T.A




Hi....hi....



Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Những hình ảnh đẹp coppy tù blog Mai Thanh Hải!

ĐỜI THƯỜNG TRONG DINH ĐỘC LẬP, NGÀY 30-4-1975

Xe đạp - điếu cày - quạt nan và sự thảnh thơi buổi trưa chiến thắng
Mai Thanh Hải Blog - Sách giáo khoa lịch sử và cả các phương tiện thông tin đại chúng, khi nhắc đến thời khắc bộ đội ta chiếm Dinh Độc Lập buổi trưa ngày 30-4-1975, suốt 36 năm qua, vẫn chỉ quay đi quay lại hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng và Đại đội trưởng Bùi Quang Thận (Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2) cắm cờ Giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập. Thế nhưng ít ai biết rằng, ngay sau đó, các đơn vị xe tăng - thiết giáp - bộ binh cũng đã ào ạt đổ về, tập trung địa điểm này. Chiến thắng - Qua những hình ảnh thường thấy bao năm nay, là cờ hoa rợp trời, bộ đội mặc quần áo mới cóong, cấp hàm đỏ tươi, ngồi uy nghiêm trên thùng xe... Ít ai biết: Chiến thắng - Sau thời khắc 11h30 ngày 30-4-1975, tại Dinh Độc Lập là những giây phút đời thường, dung dị và rất đặc trưng của những anh bộ đội miền Bắc trẻ măng; là cái thở phào nhẹ nhõm sau 1 chặng đường hành quân vất vả, cái chết và sự sống cách nhau gang tấc; là quần áo rách bươm, nồng nặc mùi thuốc súng, lăn trên cỏ ngủ ngon lành như chưa bao giờ được ngủ; là tò mò ngắm nghía thành phố mới, người dân mới và những đồ vật, cảnh sắc mới quanh mình... Chiến thắng - Có nghĩa là hết chiến tranh, hết nổ súng, hết đổ máu và được nguyên vẹn trở về với quê hương, gia đình, người thân.

Xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh khác với hình ảnh ta vẫn thấy, do các phóng viên nước ngoài và phóng viên chiến trường ghi lại, ngay trong ngày 30-4-1975, tại Dinh Độc Lập:
Trước 11h30 phút, khi cờ 3 sọc vẫn còn trên nóc Dinh Độc Lập
Bộ binh tiến vào Dinh sau xe tăng

Sân trước của Dinh Độc lập, thời điểm 11h30 ngày 30-4-1975
Những người lính của chế độ cũ bỏ vũ khí đầu hàng
Sĩ quan Tăng Thiết giáp của chế độ cũ đầu hàng
Trước bậc thềm vào Dinh
Kíp chiến đấu xe tăng 879 trong sân Dinh
Ngồi nghỉ
Nhiều anh em trên 1 chiếc xe tăng
Lính trẻ vào Dinh
Nồi niêu xoong chảo cũng tiến về Dinh
Tay xách nách mang
Nơi rửa mặt và rửa chân lý tưởng (hình chụp trong Lễ Diễu binh, mừng chiến thắng 5-5-1975)

Coppy từ đây

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

Ngụ ngôn của những tiếng hót



Ngụ ngôn của những tiếng hót

(Đọc tập thơ “Những con chim của bóng tối” của Phạm Tấn Hầu - NXB Văn học 6/2011)


Tôi một mình, lũ pharixêu múa rối
Sống đến tận cùng, đâu phải chuyện chơi.
(Bôrix Patecnax)

Có thể giá trị đích thực của thơ là những gì mà tác giả đã cảm nhận qua lăng kính của tri thức và của những cơn đau ẩn mình trong trái tim bé nhỏ. Không giống như những người làm thơ khác thường tự đo đếm sự thành danh của chính mình ở số lượng và trên các mặt báo,… Phạm Tấn Hầu đến với thi ca từ cuối những thập niên sáu mươi, một số bài thơ anh đã đăng rải rác trên báo Văn, Khởi Hành, Ý thức, Bách Khoa… nhưng mãi đến năm 1990 tác giả mới ra mắt tập thơ “Thế giới anh đã ngỏ lời” ở tuổi trên bốn mươi; ở tuổi này anh được một số người trong nghề văn gọi là nhà thơ trẻ. Nhân đây, có đôi lời tản mạn về cách nhìn chủ quan của một lớp người trong xã hội chúng ta (tự cho mình là bề trên), đó là cách nhìn hạn hẹp đã góp phần không nhỏ vào việc hạn chế sự trưởng thành của các thế hệ sau. Hãy nhìn lại quá khứ trong lĩnh vực văn chương, khi một Vũ Trọng Phụng thành danh ở tuổi trẻ trên dưới hai mươi, một Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Phạm Công Thiện,… là những tác giả để lại ấn tượng mạnh ở lứa tuổi như vậy. Thực ra, với thi ca và nghệ thuật không có ranh giới của tuổi tác, cũng không phân biệt người xuất hiện trước kẻ sau; vấn đề là xuất hiện như thế nào, và càng không có đàn anh đàn em, áp phe chia chác như ở các băng đảng,… điều trân quý trong mỗi người cầm bút là một tấm lòng! Và điều để làm nên một thi sĩ thực thụ chính là trái tim vô úy! Tất cả những người thơ như đang trôi vào dòng chảy cuồn cuộn của xã hội và những angten cảm thụ cùng với khả năng ngôn từ cứ thế mà trào tuôn. Cũng như Rimbaud, một thi sĩ thấu thị chỉ ở tuổi niên thiếu, nhưng với sự giao cảm cao xa và sự rung động ở tầng thâm sâu của tâm hồn, chàng trai trẻ đó, sau này đã trở thành trung tâm điểm khiến cho thế giới thi ca quay xung quanh tác phẩm mình. Thi ca và khoa học cùng nhìn về một hướng nhưng con đường đến đích là khác nhau, thế giới của các nhà khoa học là thế giới của kinh nghiệm lý trí, thế giới của cái nhìn phóng chiếu ra bên ngoài. Trong khi đó thế giới thi ca vượt qua lý trí để đạt đến thực tại của cá thể qua những cơn xúc cảm và sự tiếp nhận trực diện từ nội tâm và ngoại cảnh.

Chưa bàn đến “Quay vòng với bụi” xuất hiện năm 1999, thiết nghĩ với “Thế giới anh đã ngỏ lời” xuất bản năm 1990 là quá đủ và chỉ chừng đó thôi đã hình thành những mảng và khối của một nhà thơ, khi nghe “bản tin về Paxtenắc” bị khai trừ ra khỏi hội, tác giả như đã cảm nhận được một vòng quay của tương lai. Phẩm giá của nghệ thuật nói chung và của thi ca nói riêng trong những xã hội bình thường sẽ tự khẳng định chính nó bởi bản lĩnh của tác giả, không một ma lực nào có thể lay chuyển, uốn cong giá trị nghệ thuật theo ý đồ khác, trừ khi có sự thỏa hiệp của tác giả.

Trong cách nhìn đó, “Những con chim của bóng tối” lại một lần nữa cho người đọc nhìn rõ hơn gương mặt của thi nhân, khi tác giả đã ngỏ lời với thế giới hơn hai mươi năm qua. Nhưng thế giới vốn như vậy, không bao giờ toàn mỹ vì không có sự hoàn hảo trong mỗi cá thể. Có chăng là sự đổi thay trong cách nhìn và cách thể hiện ngôn từ của nhà thơ. Để rồi bóng tối trở thành nơi trú ngụ của những linh hồn khát bay, khi màu đỏ bầm của máu trộn lẫn với đêm đen, để sự căng thẳng đổ dồn về trái tim cho lũ chim thức trắng:

Đêm hôm trước đỏ bầm
Như máu dồn trong máu
Và lũ chim thức trắng
Vì ngày mai
Là tiếng hát khác

Bi kịch thay khi tương lai của loài chim lại là những chiếc lồng nhỏ bé hơn cùng với sự mục nát.

Và chiếc lồng nhỏ bé
Hơn cả thân giam cầm
Và mục nát
Phơi bày

Việc luận bàn về nghệ thuật ngôn từ có lẽ dành cho những bài chuyên khảo về toàn bộ sự nghiệp của tác giả, ở đây chỉ nói đến tiết nhịp và hình ảnh trong “Những con chim của bóng tối”. Thật ra, ngoài những hình ảnh mới như cái chết của một thi sĩ, những người lính biển đảo, trang giấy lặng im, khoảng trống trên đường phố,… thì một số hình ảnh trong tập thơ này là một sự lặp lại của “Thế giới anh đã ngỏ lời”, có thể đây là chủ ý của tác giả như muốn nhắn nhủ với người đọc rằng, đã hơn hai mươi năm trôi qua, hình ảnh của xã hội được phản chiếu qua hai tập thơ không mấy đổi thay, một xã hội đã đóng khung các giá trị, vẫn là những phận người khổ ải, hình ảnh những con chim thức trắng, không khí của sự im lặng, những khúc hát ru, những khoảng trống, những con đường quê,… có chăng là sự đổi thay về nghệ thuật ngôn từ và tiết nhịp, về những cái nhìn siêu nghiệm vượt qua rào cản duy lý, tạo ra những trường xung động khiến người đọc phải trở trăn trong trường thức của tác giả. Không gian thơ của Phạm Tấn Hầu trở nên thiêng liêng khi anh đã kiến tạo những hình ảnh vượt qua sự thật đớn hèn, để đề cao giá trị của thi ca và tạo ra những vệt loang rộng và sâu hơn trong thế giới thơ của chính mình. Và qua đó, tác giả cho người đọc thấy được gương mặt bao quát của xã hội mà chúng ta đang tồn tại với rất nhiều biến hiện. Vì vậy khi khẩu độ lăng kính của tác giả càng lớn thì vẻ mặt của tác phẩm càng đa dạng và sâu thẳm, chúng ta hãy cùng tác giả đi qua những “khoảng trống trên đường phố” cùng với đội quân bán rong, những đoàn xiếc đói tuồng và những người cố bơm đầy hơi thành những tượng đài.

Đó là bi kịch của những con người tự túm đầu mình kéo lên mà bên trong chứa đầy những ngôn từ ngụy trá, rỗng tuếch,… và có lẽ điều mà tác giả muốn nói còn nhiều hơn những câu chữ đang hiển hiện, khi sự gãy vỡ trở thành điều không thể chối bỏ:

chẳng bao giờ trọn vẹn, tiếng kêu này bị chặn lại
bởi một tiếng kêu khác
những cao ốc hãm hiếp nhau
những người bị nạt nộ
và kẻ thích đi nạt nộ

Sự thất vọng khi đã trở thành nỗi tuyệt vọng, cũng là thời khắc con người đối diện rõ nhất với chính mình, và đó chính là phút giây quyết định một tương lai khác, khi họ mãi miết kiếm tìm mà không thể tìm thấy:

một cánh cổng, chiếc vé tàu của mình
cùng tay nãi ấm áp
bao bọc mối ước mơ
họ không có câu hỏi nào
cũng chẳng biết trả lời
vì đường phố này thừa thãi
nỗi xa lạ

Thật khủng khiếp khi mỗi con người đang tồn tại trong một xã hội lại không thể tìm ra một cánh cổng, một con đường,… và kinh khiếp hơn là sống mà không có câu hỏi nào… phải chăng khi sự vô cảm đã ngập tràn bởi những kẻ thích đi nạt nộ đã khiến cho không khí sợ hãi trùm vây đến nỗi con người không con biết hỏi và trả lời. Điều đó hãy để thời gian phán xét. Và rồi, dù biết rằng tất cả sẽ qua đi. Nhưng ở đây, không phải qua bờ bên kia, bờ hy vọng tươi sáng mà là qua những nhập nhoạng ảo mờ, như những thân phận cô quạnh trong mưa gió âm u, để gợi lên trong tâm hồn thi nhân một chút lòng trắc ẩn mà Phạm Tấn Hậu gọi đó là khoảng trống còn lại trong xã hội này, ôi thật trớ trêu khi khoảng trống tội tình kia là nguyên cớ gia tăng nỗi đau cho những tâm hồn còn biết xót thương.

Họ sẽ đi qua hàng cây xẫm tối kia
để trở thành chiếc bóng mờ
để tàn lá mong manh
quyện vào những sợi mưa mát lạnh
vỗ về
tấm lòng trắc ẩn
và đó là khoảng trống
còn lại trên đường phố này
để ta úp mặt
khóc.

Từ xưa đến nay, những người còn lương tri đã sống và giữ được phẩm hạnh cuộc đời, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, mỗi người cầm bút như phải mang vác một sứ mệnh mà bằng cách này hoặc cách khác như một nghiệp dĩ phải đi cùng với những hoạt cảnh mà buộc người cầm bút phải tham dự, nhưng, như đã nói trên, bản lĩnh của người nghệ sĩ thể hiện chính trong những hoàn cảnh như vậy, đó là điều giúp cho mỗi chúng ta trưởng thành hơn trước mọi cám dỗ và sự sợ hãi đang bủa vây. Vì thế, để ghi nhận và đánh giá chính xác một nghệ sĩ là đánh giá vào những thời khắc cao trào của lịch sử và hãy nhìn xuyên suốt vào tác phẩm của họ. Bây giờ, chúng ta cùng “ru khúc Hoàng Sa” với nhà thơ Phạm Tấn Hầu để tưởng niệm những người lính đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Ta tự Hoàng Sa mới thổi về
Mấy hồn lính thú thác xa quê
Không đảo không nhà không mộ chí
Theo sóng làm ma để thét gào
Người ở phương Nam ta phương Bắc
Tìm nhau qua tiếng hịch thiêng liêng
Gọi mỏm đá kia là tổ quốc
Biết bao lần đem máu tưới lên

Hỡi “những con chim của bóng tối” hãy kiên nhẫn “chờ đợi sự im lặng”, dù biết rằng sự im lặng cuối cùng cũng bị nuốt chửng: “và những con đường luôn khép lại/ cây cũng tụm lại / tắt luôn tiếng rì rào / tựa như đang chờ đợi/ để nuốt chửng thêm sự im lặng / của chúng ta ». Trong khoảng thời gian chờ đợi đó, chúng ta hãy băng qua khu “rừng Juliet” để cùng “thắp sáng rừng tình nhân” và chứng thực một “sự dâng tặng“ đầy thi vị đã thúc giục niềm khô khát bên trong trái tim người thơ:

những trái cây thật tròn đầy
rụng quanh niềm khao khát. Hỡi em
ta muốn một thế giới
chuyển động theo ý nghĩ
về em.

Như một cảm nghiệm về thế giới, cuối cùng là một sự lặng im bao trùm khi mà cái chết là điều tất yếu và hư vô luôn ngự trị trong mỗi chúng ta, dù trong “cái chết của một thi sĩ” như một tiên nghiệm của trực giác về sống chết, nhưng tác giả như đang nhắc nhở chúng ta rằng, mỗi thời khắc trôi qua, chúng ta đang nhích dần về phía lặng im vĩnh cửu:

Hãy im lặng
để nghe nỗi cô đơn đang xua đi
tất cả hình thái, tư duy, chữ nghĩa
ra khỏi phút dây hiện hữu này
và nghe mình trôi đi, chìm sâu

Và chính trong sự im lặng đó, mỗi chúng ta hãy bình thản ngắm nhìn chiếc áo quen thuộc như trở thành một với chúng ta lần cuối cùng để bước vào một thế giới khác:

Trần trụi và đơn độc
ta muốn ngắm mình
thật kỹ
trước khi phó mặc
cho sự khâm liệm
của hư vô.

Chúng ta có thể tìm thấy “những con chim của bóng tối” đang ẩn núp đâu đó xung quanh ta và có thể ngay bên trong mỗi chúng ta đều có những khát vọng được bay đang nằm im trong thẳm sâu để đợi chờ ngày tung cánh. Tôi tin rằng ngày đó sẽ đến dù sớm hay muộn gì, vì khát vọng bay là khát vọng của cả một dân tộc nói riêng và của loài người nói chung. Vì thế những chiếc lồng bé nhỏ, chật chội và mục ruổng kia sẽ không giam cầm được khát vọng lớn lao của cả nhân loại. Hỡi “những con chim của bóng tối” hãy đợi chờ ngày tung cánh.





Huế, 7-2011

Lê Huỳnh Lâm