Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

Ngụ ngôn của những tiếng hót



Ngụ ngôn của những tiếng hót

(Đọc tập thơ “Những con chim của bóng tối” của Phạm Tấn Hầu - NXB Văn học 6/2011)


Tôi một mình, lũ pharixêu múa rối
Sống đến tận cùng, đâu phải chuyện chơi.
(Bôrix Patecnax)

Có thể giá trị đích thực của thơ là những gì mà tác giả đã cảm nhận qua lăng kính của tri thức và của những cơn đau ẩn mình trong trái tim bé nhỏ. Không giống như những người làm thơ khác thường tự đo đếm sự thành danh của chính mình ở số lượng và trên các mặt báo,… Phạm Tấn Hầu đến với thi ca từ cuối những thập niên sáu mươi, một số bài thơ anh đã đăng rải rác trên báo Văn, Khởi Hành, Ý thức, Bách Khoa… nhưng mãi đến năm 1990 tác giả mới ra mắt tập thơ “Thế giới anh đã ngỏ lời” ở tuổi trên bốn mươi; ở tuổi này anh được một số người trong nghề văn gọi là nhà thơ trẻ. Nhân đây, có đôi lời tản mạn về cách nhìn chủ quan của một lớp người trong xã hội chúng ta (tự cho mình là bề trên), đó là cách nhìn hạn hẹp đã góp phần không nhỏ vào việc hạn chế sự trưởng thành của các thế hệ sau. Hãy nhìn lại quá khứ trong lĩnh vực văn chương, khi một Vũ Trọng Phụng thành danh ở tuổi trẻ trên dưới hai mươi, một Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Phạm Công Thiện,… là những tác giả để lại ấn tượng mạnh ở lứa tuổi như vậy. Thực ra, với thi ca và nghệ thuật không có ranh giới của tuổi tác, cũng không phân biệt người xuất hiện trước kẻ sau; vấn đề là xuất hiện như thế nào, và càng không có đàn anh đàn em, áp phe chia chác như ở các băng đảng,… điều trân quý trong mỗi người cầm bút là một tấm lòng! Và điều để làm nên một thi sĩ thực thụ chính là trái tim vô úy! Tất cả những người thơ như đang trôi vào dòng chảy cuồn cuộn của xã hội và những angten cảm thụ cùng với khả năng ngôn từ cứ thế mà trào tuôn. Cũng như Rimbaud, một thi sĩ thấu thị chỉ ở tuổi niên thiếu, nhưng với sự giao cảm cao xa và sự rung động ở tầng thâm sâu của tâm hồn, chàng trai trẻ đó, sau này đã trở thành trung tâm điểm khiến cho thế giới thi ca quay xung quanh tác phẩm mình. Thi ca và khoa học cùng nhìn về một hướng nhưng con đường đến đích là khác nhau, thế giới của các nhà khoa học là thế giới của kinh nghiệm lý trí, thế giới của cái nhìn phóng chiếu ra bên ngoài. Trong khi đó thế giới thi ca vượt qua lý trí để đạt đến thực tại của cá thể qua những cơn xúc cảm và sự tiếp nhận trực diện từ nội tâm và ngoại cảnh.

Chưa bàn đến “Quay vòng với bụi” xuất hiện năm 1999, thiết nghĩ với “Thế giới anh đã ngỏ lời” xuất bản năm 1990 là quá đủ và chỉ chừng đó thôi đã hình thành những mảng và khối của một nhà thơ, khi nghe “bản tin về Paxtenắc” bị khai trừ ra khỏi hội, tác giả như đã cảm nhận được một vòng quay của tương lai. Phẩm giá của nghệ thuật nói chung và của thi ca nói riêng trong những xã hội bình thường sẽ tự khẳng định chính nó bởi bản lĩnh của tác giả, không một ma lực nào có thể lay chuyển, uốn cong giá trị nghệ thuật theo ý đồ khác, trừ khi có sự thỏa hiệp của tác giả.

Trong cách nhìn đó, “Những con chim của bóng tối” lại một lần nữa cho người đọc nhìn rõ hơn gương mặt của thi nhân, khi tác giả đã ngỏ lời với thế giới hơn hai mươi năm qua. Nhưng thế giới vốn như vậy, không bao giờ toàn mỹ vì không có sự hoàn hảo trong mỗi cá thể. Có chăng là sự đổi thay trong cách nhìn và cách thể hiện ngôn từ của nhà thơ. Để rồi bóng tối trở thành nơi trú ngụ của những linh hồn khát bay, khi màu đỏ bầm của máu trộn lẫn với đêm đen, để sự căng thẳng đổ dồn về trái tim cho lũ chim thức trắng:

Đêm hôm trước đỏ bầm
Như máu dồn trong máu
Và lũ chim thức trắng
Vì ngày mai
Là tiếng hát khác

Bi kịch thay khi tương lai của loài chim lại là những chiếc lồng nhỏ bé hơn cùng với sự mục nát.

Và chiếc lồng nhỏ bé
Hơn cả thân giam cầm
Và mục nát
Phơi bày

Việc luận bàn về nghệ thuật ngôn từ có lẽ dành cho những bài chuyên khảo về toàn bộ sự nghiệp của tác giả, ở đây chỉ nói đến tiết nhịp và hình ảnh trong “Những con chim của bóng tối”. Thật ra, ngoài những hình ảnh mới như cái chết của một thi sĩ, những người lính biển đảo, trang giấy lặng im, khoảng trống trên đường phố,… thì một số hình ảnh trong tập thơ này là một sự lặp lại của “Thế giới anh đã ngỏ lời”, có thể đây là chủ ý của tác giả như muốn nhắn nhủ với người đọc rằng, đã hơn hai mươi năm trôi qua, hình ảnh của xã hội được phản chiếu qua hai tập thơ không mấy đổi thay, một xã hội đã đóng khung các giá trị, vẫn là những phận người khổ ải, hình ảnh những con chim thức trắng, không khí của sự im lặng, những khúc hát ru, những khoảng trống, những con đường quê,… có chăng là sự đổi thay về nghệ thuật ngôn từ và tiết nhịp, về những cái nhìn siêu nghiệm vượt qua rào cản duy lý, tạo ra những trường xung động khiến người đọc phải trở trăn trong trường thức của tác giả. Không gian thơ của Phạm Tấn Hầu trở nên thiêng liêng khi anh đã kiến tạo những hình ảnh vượt qua sự thật đớn hèn, để đề cao giá trị của thi ca và tạo ra những vệt loang rộng và sâu hơn trong thế giới thơ của chính mình. Và qua đó, tác giả cho người đọc thấy được gương mặt bao quát của xã hội mà chúng ta đang tồn tại với rất nhiều biến hiện. Vì vậy khi khẩu độ lăng kính của tác giả càng lớn thì vẻ mặt của tác phẩm càng đa dạng và sâu thẳm, chúng ta hãy cùng tác giả đi qua những “khoảng trống trên đường phố” cùng với đội quân bán rong, những đoàn xiếc đói tuồng và những người cố bơm đầy hơi thành những tượng đài.

Đó là bi kịch của những con người tự túm đầu mình kéo lên mà bên trong chứa đầy những ngôn từ ngụy trá, rỗng tuếch,… và có lẽ điều mà tác giả muốn nói còn nhiều hơn những câu chữ đang hiển hiện, khi sự gãy vỡ trở thành điều không thể chối bỏ:

chẳng bao giờ trọn vẹn, tiếng kêu này bị chặn lại
bởi một tiếng kêu khác
những cao ốc hãm hiếp nhau
những người bị nạt nộ
và kẻ thích đi nạt nộ

Sự thất vọng khi đã trở thành nỗi tuyệt vọng, cũng là thời khắc con người đối diện rõ nhất với chính mình, và đó chính là phút giây quyết định một tương lai khác, khi họ mãi miết kiếm tìm mà không thể tìm thấy:

một cánh cổng, chiếc vé tàu của mình
cùng tay nãi ấm áp
bao bọc mối ước mơ
họ không có câu hỏi nào
cũng chẳng biết trả lời
vì đường phố này thừa thãi
nỗi xa lạ

Thật khủng khiếp khi mỗi con người đang tồn tại trong một xã hội lại không thể tìm ra một cánh cổng, một con đường,… và kinh khiếp hơn là sống mà không có câu hỏi nào… phải chăng khi sự vô cảm đã ngập tràn bởi những kẻ thích đi nạt nộ đã khiến cho không khí sợ hãi trùm vây đến nỗi con người không con biết hỏi và trả lời. Điều đó hãy để thời gian phán xét. Và rồi, dù biết rằng tất cả sẽ qua đi. Nhưng ở đây, không phải qua bờ bên kia, bờ hy vọng tươi sáng mà là qua những nhập nhoạng ảo mờ, như những thân phận cô quạnh trong mưa gió âm u, để gợi lên trong tâm hồn thi nhân một chút lòng trắc ẩn mà Phạm Tấn Hậu gọi đó là khoảng trống còn lại trong xã hội này, ôi thật trớ trêu khi khoảng trống tội tình kia là nguyên cớ gia tăng nỗi đau cho những tâm hồn còn biết xót thương.

Họ sẽ đi qua hàng cây xẫm tối kia
để trở thành chiếc bóng mờ
để tàn lá mong manh
quyện vào những sợi mưa mát lạnh
vỗ về
tấm lòng trắc ẩn
và đó là khoảng trống
còn lại trên đường phố này
để ta úp mặt
khóc.

Từ xưa đến nay, những người còn lương tri đã sống và giữ được phẩm hạnh cuộc đời, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, mỗi người cầm bút như phải mang vác một sứ mệnh mà bằng cách này hoặc cách khác như một nghiệp dĩ phải đi cùng với những hoạt cảnh mà buộc người cầm bút phải tham dự, nhưng, như đã nói trên, bản lĩnh của người nghệ sĩ thể hiện chính trong những hoàn cảnh như vậy, đó là điều giúp cho mỗi chúng ta trưởng thành hơn trước mọi cám dỗ và sự sợ hãi đang bủa vây. Vì thế, để ghi nhận và đánh giá chính xác một nghệ sĩ là đánh giá vào những thời khắc cao trào của lịch sử và hãy nhìn xuyên suốt vào tác phẩm của họ. Bây giờ, chúng ta cùng “ru khúc Hoàng Sa” với nhà thơ Phạm Tấn Hầu để tưởng niệm những người lính đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Ta tự Hoàng Sa mới thổi về
Mấy hồn lính thú thác xa quê
Không đảo không nhà không mộ chí
Theo sóng làm ma để thét gào
Người ở phương Nam ta phương Bắc
Tìm nhau qua tiếng hịch thiêng liêng
Gọi mỏm đá kia là tổ quốc
Biết bao lần đem máu tưới lên

Hỡi “những con chim của bóng tối” hãy kiên nhẫn “chờ đợi sự im lặng”, dù biết rằng sự im lặng cuối cùng cũng bị nuốt chửng: “và những con đường luôn khép lại/ cây cũng tụm lại / tắt luôn tiếng rì rào / tựa như đang chờ đợi/ để nuốt chửng thêm sự im lặng / của chúng ta ». Trong khoảng thời gian chờ đợi đó, chúng ta hãy băng qua khu “rừng Juliet” để cùng “thắp sáng rừng tình nhân” và chứng thực một “sự dâng tặng“ đầy thi vị đã thúc giục niềm khô khát bên trong trái tim người thơ:

những trái cây thật tròn đầy
rụng quanh niềm khao khát. Hỡi em
ta muốn một thế giới
chuyển động theo ý nghĩ
về em.

Như một cảm nghiệm về thế giới, cuối cùng là một sự lặng im bao trùm khi mà cái chết là điều tất yếu và hư vô luôn ngự trị trong mỗi chúng ta, dù trong “cái chết của một thi sĩ” như một tiên nghiệm của trực giác về sống chết, nhưng tác giả như đang nhắc nhở chúng ta rằng, mỗi thời khắc trôi qua, chúng ta đang nhích dần về phía lặng im vĩnh cửu:

Hãy im lặng
để nghe nỗi cô đơn đang xua đi
tất cả hình thái, tư duy, chữ nghĩa
ra khỏi phút dây hiện hữu này
và nghe mình trôi đi, chìm sâu

Và chính trong sự im lặng đó, mỗi chúng ta hãy bình thản ngắm nhìn chiếc áo quen thuộc như trở thành một với chúng ta lần cuối cùng để bước vào một thế giới khác:

Trần trụi và đơn độc
ta muốn ngắm mình
thật kỹ
trước khi phó mặc
cho sự khâm liệm
của hư vô.

Chúng ta có thể tìm thấy “những con chim của bóng tối” đang ẩn núp đâu đó xung quanh ta và có thể ngay bên trong mỗi chúng ta đều có những khát vọng được bay đang nằm im trong thẳm sâu để đợi chờ ngày tung cánh. Tôi tin rằng ngày đó sẽ đến dù sớm hay muộn gì, vì khát vọng bay là khát vọng của cả một dân tộc nói riêng và của loài người nói chung. Vì thế những chiếc lồng bé nhỏ, chật chội và mục ruổng kia sẽ không giam cầm được khát vọng lớn lao của cả nhân loại. Hỡi “những con chim của bóng tối” hãy đợi chờ ngày tung cánh.





Huế, 7-2011

Lê Huỳnh Lâm

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Một truyện ngắn viết đã lâu lắm rồi...giờ đọc lại thấy thằng Chí trong đó thua anh Vươn quá nhiều...:))





THƯ CHO MỘT NGƯỜI BẠN

Truyện ngắn của Lãng Hiển Xuân

Trong cuộc sống của con người ta việc đem chuyện đời tư của người khác ra để mà nói quả là đáng xấu hổ, tôi biết rất rõ điều đó. Tuy tôi không phải là nhà văn hay nhà báo và cũng không muốn vậy, nhưng hôm nay tôi cũng mạn phép được đem chuyện của người bạn tôi ra đây để được một lần hy vọng...và cũng là để nói với chính người bạn mà tôi luôn quý trọng.
Một hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao vẫn là hy vọng...

***
...(Tao không phải là hám danh để mà lôi mày ra đây đâu Chí ạ. Với lại chuyện của mày chẳng đáng một xu! Chỉ vì tao thấy tội nghiệp cho vợ con mày và ghét thói tự trọng theo kiểu khí khái cổ lỗ sĩ của mày nên tao phải làm cái việc bất đắc dĩ này. Mà thật ra cái tự trọng với cái tự kỷ chỉ cách nhau bằng một tờ giấy thấm và khi đã thấm mực rồi đưa ra xem thì mặt nào cũng có chữ cả, khác nhau chỉ là ở chỗ chữ ngược hay chữ xuôi mà thôi…
Mày là một thằng...! Hãy nghĩ lại đi! Chẳng ích gì đem vò nhàu đi cả một tờ giấy trắng khi mới chỉ có vài ba vết mực. Mày bảo tao là thằng “mọt” rỗng, nhưng dù có “mọt” thì tao cũng phải lôi mày ra đây một lần, chẳng phải là để trả thù cho cái tính của mày hay đưa chuyện làm quà cho vui hoặc chỉ là để lấy vài trăm tiền nhuận bút mà là vì vợ con mày cũng đã ăn hết nửa cái xe máy của mày để lại rồi và cũng là để tao hy vọng...)
Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao cũng là hy vọng...

***
Ở đời ai cũng có một cái tên để mà gọi, mà phân biệt ông nọ bà kia. Ai cũng muốn mình có một cái tên hay, tên đẹp, nhưng khổ nỗi cái tên lại thường do cha mẹ áp đặt cho mình. Cha mẹ nghèo khó thì cứ đặt phứa là thằng Cu, cái Tý, con Hĩm cho xong chuyện để mà còn lo cơm áo gạo tiền. Cha mẹ hiếm muộn thì kỹ lưỡng hơn một chút và cố tình kiếm một cái tên xâu xấu đặt cho con kẻo sợ ma quỷ nó chấm mất...Chỉ khổ cho con cái khi lớn lên đi làm, đi học phải thẹn thùng, phải đổi tên nên cũng lắm nỗi! Nhờ cái tên, đôi người cũng “làm ra ăn nên”, và cũng vì cái tên mà nhiều người khác phải long đong lận đận…
Cha mẹ bạn tôi là gia đình cán bộ và là gia đình có học thức nên đặt tên cho nó là Chí, với ước mong hắn có chí để mà nên người. Không biết với người khác thì sao chứ với hắn thì cái tên đúng như là một định mệnh ám vào cuộc sống của hắn, năm hắn học lớp 6 bị ở lại lớp cũng vì cái tên ấy.
Hồi đó, trong lớp, bạn bè cứ gọi hắn là “Chí Phèo”. Một hôm, nhân sinh hoạt lớp, cô chủ nhiệm kiêm giáo viên bộ môn Văn nói đùa trước cả lớp: “Cậu Chí mà được như Chí Phèo đã là may. Cậu mới chỉ xứng đáng là Chí Ngây thôi!” Chẳng biết từ “Ngây” đến “Phèo” cách nhau mấy bậc mà cô lại vô tình nói như vậy. Và từ đó, cái tên Chí Ngây đã trở thành tên thường gọi của hắn. Cũng từ đó, hắn thù ghét môn Văn và tỏ ra đối kháng với cô chủ nhiệm. Thường thì hắn kiếm lý do để nghỉ học giờ văn, còn không thì cũng nghĩ ra vài trò nghịch nghợm gì đó để bị đuổi ra khỏi lớp. Và giọt nước đã tràn ly khi hắn bị phát hiện ra là người đã bỏ “hắc ín” lên ghế ngồi của cô chủ nhiệm. Miệng thì chối đây đẩy mà hai hàng nước mắt của hắn cứ dòng dòng chảy, nhưng những giọt nước mắt đã không rửa sạch được đôi bàn tay dính đầy “hắc ín” của hắn. Kết thúc năm học với hạnh kiểm kém cộng thêm điểm tổng kết môn văn kém, hắn đã bị ở lại lớp. Vậy mà cái mặt hắn cứ nhơn nhơn như chẳng có chuyện gì.
 Thực ra thì hắn là một thằng học khá đều ở các môn, chỉ vì tính nghịch nghợm, táy máy nên luôn bị thầy cô giáo ghét. Chả thế mà 7 năm học phổ thông hắn đã hai lần ở lại lớp vì hạnh kiểm. Nhưng cũng hai lần hắn được đi thi học sinh giỏi toán cấp thành phố.(năm lớp 4 và năm lớp 7).
Gọi hắn là Chí Ngây cũng có phần đúng. Những giờ học trên lớp, gặp giờ học hắn thích là hắn cứ ngây ra như uống phải thuốc tê, quên hết những trò nghịch nghợm. Có hôm, giáo viên giảng bài ra khỏi lớp đã từ lâu nhưng hắn cứ đực người ra lẩm bẩm như đang cầu kinh trong nhà thờ. Hắn ngây nhưng không phải lúc nào cũng ngây ngây như ai đó nghĩ. Giờ ra chơi, lúc bạn bè vui chơi thì hắn cứ đứng ngây ra để xem nếu gọi hắn cùng tham gia thì thể nào hắn cũng nghĩ ra một trò gì đó theo cách của hắn. Ví dụ như chơi kéo co thì hắn bảo đừng kéo bằng dây, vì kéo như thế thì sẽ có đứa lợi dụng chỉ bám vào dây mà không kéo. Cứ đứa này ôm lấy đứa kia, ai ăn gian là lòi ra ngay. Nhưng rồi chơi như vậy chẳng đứa nào chịu đứng đầu và hắn lại xung phong ra “đứng mũi chịu sào”! Ở đời, chẳng ai muốn rước cái khổ vào thân nhưng hắn lại coi như đó là cái lẽ bình thường. Hắn hay nói, ai cũng giành phần sướng thì để phần khổ cho ai? Và nếu không có những người nông dân lam lũ cục cằn thì lấy ai trồng lúa cho mấy người trí thức ăn để mà ngồi viết, mà thong dong, mà chê người khác quê mùa. Cũng cái lý ấy, có lần hắn quên cái mũ trong ngăn bàn ở lớp học, nhờ có trực nhật nên hắn nhận được lại cái mũ, thế là hắn tuyên bố tự nguyện trực nhật cho lớp cả tháng. Sau đó, ngày nào tới lớp hắn cũng mang theo một cái chổi cán dài đi nghễu nghện giữa phố một cách rất tự hào, còn cái mặt thì cứ ngây ra như một cậu tân binh vừa được trang bị súng...
Hắn sinh vào một ngày cũng rất đáng để nói, ngày đó là ngày 29-2, một ngày nhuận. Có lẽ thế mà cuộc đời hắn hay bị “nhuận” chăng? Bảy năm học phổ thông, hắn bị nhuận hai lần, cách nhau bốn năm. Hai lần đi thi học sinh giỏi toán cũng cách nhau bốn năm. Không biết ngày sinh tháng đẻ có ảnh hưởng đến cuộc đời và tính cách của mỗi người hay không, nhưng đối với hắn, sinh nhật là một cái gì đó như là một nỗi buồn. Bởi như hắn bốn năm mới có được một ngày sinh nhật cho nên thấy bạn bè mỗi năm tổ chức sinh nhật một lần, dù có mời thì hắn cũng tìm cách lảng tránh, còn vẻ mặt thì cứ ngây ra như ngửi phải một cái mùi gì đó là lạ. Biết thế nên tôi chẳng bao giờ mời hắn đến dự sinh nhật của mình...

***
(...Như tao đã nói, tao chẳng muốn tọc mạch, lôi cuộc đời riêng của mày ra làm gì,nhưng mà tao hy vọng...
Có ai đã nói: “Hành vi tạo thói quen, thói quen tạo tính cách và tính cách tạo nên cuộc đời!”. Mà sách của các cụ ngày xưa thì lại bảo: “Nhân chi sơ...” thì rõ ràng thói quen của con người là do môi trường tạo nên, cho nên mày việc gì phải tự trách mày, trách số phận làm gì. Đã thế lại còn giở cái thói tự trọng với tự ái ra để tự hành hạ bản thân, lại còn hành hạ cả những người thân của mình. Cái tự trọng hay tự ái của mày dù có lớn bằng ông trời đi chăng nữa thì mày cũng chỉ là một hạt cát và hạt cát đó cũng chẳng đủ để làm đau một bàn chân của ai đó vô tình dẫm lên. Tao sẽ bằng mọi cách lôi mày ra khỏi nơi mày náu thân để mà tao hy vọng...)

***
Tốt nghiệp xong lớp 7 với 36 điểm, vì hạnh kiểm nên hắn không được chuyển thẳng vào lớp 8. Lúc đó, một sự kiện xảy ra với gia đình hắn. Bố hắn từ trong miền Nam ra sau khi bị một mảnh pháo găm trên đầu. Tuy mảnh pháo đó đã được lấy ra nhưng vẫn để lại trong đó những cơn động kinh bất chợt của bố hắn. Thỉnh thoảng có tiếng động đột ngột là bố hắn lại lăn đùng ra ngất lịm, phải mất cả tuần sau ông mới tỉnh lại được. Thế là hắn nghỉ học. Dù rất thiết tha với sự học nhưng hắn không thể tiếp tục học được nữa, phần vì hoàn cảnh gia đình, phần vì quá tuổi do hai lần bị “nhuận” cộng với đi học muộn mất một năm. Và cánh cửa của trường cấp III đã đóng sầm lại trước mũi hắn.
Khi bố hắn đi an dưỡng một thời gian, mẹ hắn đã đồng ý cho hắn khai tăng thêm hai tuổi để đi làm lao động phổ thông ở trong một nhà máy. Sợ hắn lông bông, bà bảo: “Ở cái thành phố sầm uất này, con người ta không có việc làm dễ sinh ra trộm cắp!”. Trong lúc bạn bè hắn còn mài đũng quần trên ghế nhà trường thì hắn đã được cầm thẻ cử tri đi bầu cử. Và cái thẻ cử tri như là một lá bùa của hắn, đi đâu hắn cũng mang theo, bởi hồi đó, cái thẻ cử tri có giá trị gần như là một chứng minh nhân dân. Có lần, lơ ngơ thế nào, hắn lại đạp xe đi nhầm vào đường ngược chiều, một cô Công an xinh xắn thổi còi bắt hắn lại, nhìn thẳng vào cái bộ mặt non choẹt của hắn, cô Công an lạnh lùng hỏi:
- Tên anh là gì?
Hoảng quá, hắn cứ nhìn chằm chằm vào đôi găng tay màu trắng của cô Công an rồi nói một cách ngọng nghịu lí nhí:
- Dạ...dạ...em...cháu tên là…là chi ạ!
Mấy tiếng cuối cùng hắn nói như nghẹn lại. Tiếng Chí mà nghe cứ như là chi vậy. Cô Công an nghe không rõ, nhìn vào ánh mắt hắn, tưởng hắn đùa nên vội quát:
-Tôi hỏi anh, sao anh lại hỏi lại tôi. Anh định giở trò đùa với tôi đấy à? Anh có giấy tờ gì không?
Sực nhớ tới cái thẻ cử tri, hắn vội vàng lấy ra đưa cho cô Công an xem. Cô Công an xem xong không nén được cười nhưng cũng tặng cho hắn một cái biên lai phạt hành chính với cái giá lúc đó là 5 đồng. Khi đó, vẻ mặt hắn đã ngây lại càng thộn ra như ngày nào còn vác cái chổi  nghễu nghện đi ngoài phố...
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, gia đình hắn chuyển vào Nam sinh sống, vì ba hắn vốn là một cán bộ Tập kết. Nhưng rồi rắc rối lại xảy ra với gia đình hắn, lúc đi làm thủ tục giấy tờ, chính quyền phát hiện ra sự khai man tuổi của hắn. Hộ khẩu khai sinh ghi một năm, còn giấy chuyển công tác lại ghi một năm khác. Đến lúc này, ba hắn mới biết hắn khai man tuổi để đi làm và ông đã mắng mẹ hắn vì cái tội dung túng cho con làm điều gian dối. Cuối cùng, hắn đành phải quyết định bỏ hẳn giấy chuyển công tác, coi như mấy năm công tác đổ xuống sông để trở lại thành con đi theo cha mẹ. Và thế là mọi thủ tục hành chính để trở về quê hương cũng thông suốt...
***

(...Hồi nào tao còn nhớ, mày bảo với tao rằng, ba mày rất thương mày, mong mày có chí để sống, để vươn lên đúng bằng khả năng của mày. Ông còn bảo rằng mày là con đầu nên mày như là một viên gạch lát đường để cho các em mày bước lên. Giờ đây, những đứa em mày cũng đã yên bề gia thất như sở nguyện của ba mày lúc còn sống, vậy thì mày còn đòi hỏi điều gì nữa? Phần khác, con mày cũng xinh xẻo thông minh như mày, vợ mày cũng thương mày hơn cả mẹ mày, thử hỏi có ai hạnh phúc như mày nữa không?
Tao cũng còn nhớ, ba mày chỉ khuyên mày đừng đi làm những gì dính dáng đến kinh tế hay chính trị, chứ có khuyên mày tự đi hành xác mày đâu. Chả lẽ, ở cái thành phố này chật hẹp đến nỗi không còn có chỗ cho đôi bàn chân mày đứng? Nói ra điều này tao chỉ mong mày nghĩ lại. Với khả năng của mày thì hà cớ gì phải làm trong một cơ quan nào đó mới thể hiện được năng lực của mình!...)

***
Trở về Nam, nhưng thực chất là một dải đất hẹp ở miền Trung bên kia giới tuyến cũ, gia đình hắn cũng sớm ổn định. Mặc dù nhà cửa tuềnh toàng trong một căn cứ cũ của Mỹ bỏ lại nhưng cũng khá đầm ấm. Nhờ bạn bè của ba, mẹ hắn và hắn được vào làm trong một Xưởng đóng tàu thuỷ. Có ba chỉ bảo hướng dẫn và sẵn có một chút thông minh nên chỉ sau sáu tháng, hắn đã lấy được giấy chứng nhận Công nhân bậc III đóng tàu thuỷ vỏ gỗ.
Từ ngày được sống gần ba hắn, hắn học hỏi được rất nhiều điều. Mỗi thứ mỗi tý, ba hắn đã tạo cho hắn sự đĩnh đạc, ý chí vươn lên trong cuộc sống. Có một điều ba hắn và hắn rất tâm đắc, đó là sống phải luôn học hỏi, học ở trong sách vở và ở cả trong những người xung quanh. Không cứ gì phải học trên trường trên lớp mới là có học. Học trên trường lớp mà đầu óc rỗng tuyếch thì cũng bằng không. Câu nói của Lê nin: “Học, học nữa, học mãi!” là câu nói mà ba hắn vẫn thường nhắc hắn.

***
(...Đấy, tao nói như vậy mày đã hết mặc cảm chưa hả Chí Ngây! Hà cớ gì cứ phải học chính quy mới gọi là có học. Thời buổi này ối người có bằng này bằng nọ nhưng trong đầu có cái gì đâu. Quên phéng cái chuyện bằng cấp đi, việc này tao với mày đã thống nhất với nhau rồi cơ mà. Bằng cấp chẳng qua là việc quản lý hành chính của Nhà nước và cũng chẳng dính gì đến cái vốn kiến thức đang có ở trong đầu mày cả. Tại sao mày lại đem cái vốn kiến thức ấy đi chôn dấu ở đâu đó hả Chí Ngây? Tao hy vọng...)
Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao cũng là hy vọng...

***
Và chuyện học của hắn cũng đáng để lôi ra lắm, vì chẳng có ai có cái kiểu học như hắn. Làm công nhân luôn phải làm ca kíp nên rảnh rỗi lúc nào là hắn vớ ngay sách hay bất cứ tờ báo gì, cứ có chữ là đọc. Đọc trước khi đi ngủ, đọc trong giờ giải lao và đặc biệt là cả những lúc đi nhà vệ sinh nữa(thành thật xin lỗi Chí nghe vì tao phải nói thật như vậy). Hắn bảo  lúc đó chính là lúc rảnh rỗi nhất và tập trung nhất, hơn nữa qua đó sẽ tập được tính đọc nhanh. Chẳng biết cái lý của hắn đúng đến đâu, nhưng có lần hắn ngồi lì trong nhà vệ sinh tập thể cả tiếng đồng hồ, báo hại cho người khác đang lúc đau bụng phải chờ hắn,t ức hắn làm inh lên để réo hắn...
Làm công nhân được một thời gian thì cơ quan hắn có một chỉ tiêu đi học Bổ túc văn hoá tập trung của tỉnh mở. Cùng lúc đó có ba suất đi lao động xuất khẩu tại Đông Đức cũ. Vì hắn là lao động tiên tiến nên được phép lựa chọn và hắn đã chọn việc đi học. Hắn bảo: Lao động thì ở đâu mà chẳng lao động, còn đi học mà vẫn được hưởng lương thì tội gì không đi học! Thế là hắn vui vẻ nhận quyết định đi học. Có người bảo hắn dại thì hắn chỉ ngây cái mặt ra rồi thả xuống một câu: “Ở đời biết ai dại, ai khôn!” Nói xong nó quay đít đi như đang bước “một, hai” một cách tự hào…Những năm học ở trường Bổ túc văn hoá cán bộ tập trung, hắn là học viên trẻ nhất trường và cũng học giỏi nhất trường. Thấy vậy, mấy người cùng lớp và giáo viên trong trường cứ động viên hắn học xong thì đi thi vào Đại học. Về nhà được ba mẹ đồng ý nên hắn cũng như được tiếp thêm nghị lực.
Nghe hắn trình bày nguyện vọng, ông giám đốc cơ quan hắn cũng đồng ý ký giấy cho hắn đi dự thi. Thế là hắn yên tâm ôn luyện sau khi cầm chắc tấm bằng tốt nghiệp cấp III Bổ túc văn hóa vào loại giỏi, cũng 36 điểm với bốn môn thi. Hắn khấp khởi chắc mẩm phen này không thể nào “nhuận” được nữa…
Cuộc sống đầy rẫy những bất ngờ và luôn ẩn nấp ở đâu đó chỉ chờ những ai hí hởn và lao ra vồ lấy. Lần đầu tiên sau bao nhiêu cố gắng, hắn mới biết thế nào là điểm 2, điểm 3. Bởi cái chương tình hắn học chỉ là phương cách để hợp thức hoá một loại bằng cấp mà thôi. Khi ra đấu trường thi cử tự do thì Tích phân, Vi phân đã ngáng chân hắn ngã đánh oạch một cái trước bậc thềm Đại học. Vậy mà hắn chỉ cười và thộn mặt buông một câu lỏng lẻo: “Thất bại là mẹ của thành công!”...

***
(...Chí Ngây, mày còn nhớ câu đó chứ! Sao mà bây giờ mày lại chóng quên đến thế. Hôm vừa rồi tao ghé nhà mày chơi, vợ mày có khoe cái truyện ngắn mày viết cho cái báo gì đó ở trong Sài Gòn từ hồi nào đến giờ họ đã đăng rồi đó. Nghe vợ mày nói hình như còn được giải của báo cho những tác giả trẻ và đã gửi báo biếu đến tận nhà mày rồi. Còn tiền nhuận bút và tiền giải thưởng tao không biết được bao nhiêu, nhưng vợ mày đâu có đi nhận được. Chả lẽ mày đã từ bỏ không thèm đọc cả báo nữa! Hay là mày không chịu biết! Tao đang tức điên lên đây. Nếu hôm nay, việc làm của tao là vô ích thì tao vẫn làm, không phải là cho mày nữa, mà là cho vợ con mày. Và cũng là để tao hy vọng...)
Hy vọng mong manh, nhưng dẫu sao vẫn cũng là hy vọng...

***
Thi rớt Đại học và nếm mùi thi cử, hắn trở về làm việc và học hành có vẻ quy mô hơn. Nhờ có thẻ mượn, hắn đến Thư viện Tỉnh mượn các loại sách giáo khoa về nghiên cứu. Nào là tú tài A, tú tài B, Toán 11, Toán 12, hoá hữu cơ, hoá vô cơ...Vừa đi làm, vừa học. Phần nào hắn không hiểu thì hắn đi hỏi. Hắn bảo, người đời chỉ ghét những ai dấu dốt chứ chẳng ai ghét người ham học hỏi. Nhưng...
Lần này thì do nhu cầu của cơ quan nên hắn không được đi dự thi nữa, vì cơ quan năm đó không có chỉ tiêu kinh phí đào tạo! Phần khác do hắn có tay nghề vững nên tổ chức quyết định điều hắn lên bộ phận KCS để làm công tác kiểm tra chất lượng. Tuy được điều lên làm gián tiếp như là mơ ước của bao nhiêu người thời đó nhưng hắn vẫn cứ hậm hực trong lòng.
Rồi thời gian trôi đi trong những biến cố khác. Em trai hắn đi bộ đội hy sinh ở biên giới. Ba hắn đau buồn lâm bạo bệnh rồi cũng mất. Mẹ hắn nghỉ hưu. Và hắn trở thành trụ cột của gia đình. Hồi này trông hắn già đi như một người nào khác…
Sau một lần bão lụt xảy ra, tôi tới nhà hắn, đúng ra lúc đó cái nhà hắn chỉ còn trơ lại mấy cái cột kèo như nhũng cánh tay chới với giơ lên trời, còn mấy tấm tôn trên mái đã bay vèo đi đâu mất. Nhìn khuôn mặt thất thần của hắn, tôi cũng chẳng thốt lên được một lời nào để mà an ủi hắn.
Tôi bảo hắn đi mua mấy cuộn giấy dầu về để lợp lại nhà nhưng hắn buồn bã nói với tôi:
- Tao vừa đấm thằng cha trưởng phòng tổ chức!
- Mày điên sao hở Chí? – Tôi ngạc nhiên và hỏi như quát vào mặt hắn.
- Mày thấy đấy, nhà tao tao không cứu, lại chạy đi tới cơ quan để cứu tàu, bốn chiếc vừa hạ thuỷ chưa nghiệm thu mà chỉ có mỗi một người bảo vệ, tao không tới thì trôi mẹ nó hết rồi. Hàng đống của chứ phải ít đâu. Mà cũng một phần tại tao cơ, neo được ba chiếc rồi, còn chiếc thứ tư mệt quá, luống cuống thế nào chân vịt nó quấn xừ vào dây neo của chiếc trước. Tao cũng đã nhận lỗi trước lãnh đạo và hứa chờ nước rút tao sẽ khắc phục hậu quả. Thế mà thằng cha trưởng phòng tổ chức nó cứ chụp mũ tao là phá hoại tài sản Nhà nước, vì không có bằng lái tàu mà dám nổ máy để chạy tàu và đây là hành động cố ý. Điên tiết, tao tương vào mồm nó mấy đấm!
Nghe hắn kể một thôi, tôi ngẩn người ra và nói:
- Đúng là vì bão lụt nên mày bị“ẩm”mất rồi. Không có bằng thì nhịn đi một tý không được à. Thôi chuyện qua rồi, đi mua giấy dầu về sửa nhà đi!
Tôi nói xong, hắn vẫn ngồi ngây ra như để nhấm nháp nỗi buồn, rồi chợt đôi mắt hắn mờ đi và nói:
-Tao không còn tiền, kỳ lương thì chưa tới, còn xin tạm ứng có lẽ là không được!
Thế là tôi phải chạy đi tìm bạn bè để mượn tiền mua giấy dầu cho hắn lợp lại mái nhà.
Mọi biến cố rồi cũng chóng qua như nó đến nhưng hậu quả thì con người luôn phải gánh chịu. Và thế là hắn bị buộc thôi việc sau biến cố đó. Ân huệ cuối cùng mà ông giám đốc giành cho hắn là được đi tìm cơ quan khác, nếu họ tiếp nhận thì cho chuyển công tác.
Mấy tháng trời lặn lội gõ cửa các nơi, cuối cùng nhờ mấy người quen hồi đi học Bổ túc, hắn được nhận vào làm trong một cơ quan Xuất nhập khẩu mới thành lập. Quả là may mắn! Từ đó cuộc sống của gia đình hắn bắt đầu phần nào được cải thiện. Một thời gian sau hắn cũng sửa lại được ngôi nhà khá khang trang, nguyện vọng được đi học của hắn cũng được đáp ứng sau mấy năm học Đại học tại chức Kinh tế kế hoạch. Mấy đứa em hắn cũng được hắn lo chu toàn từ học hành đến lập gia thất. Và hắn cũng lấy vợ, một phụ nữ hiền lành làm văn thư ở cơ quan hắn...

***
(...Chí à! Năm học vừa rồi thằng cu Banh của mày được danh hiệu là học sinh xuất sắc. Hôm nhận phần thưởng là một bộ quần áo, nó mặc quần áo mới và nó ước gì có ba để chở nó đi chơi công viên để chụp ảnh. Nghe nó nói mà vợ mày ngồi ứa nước mắt. Còn tao thì điên tiết lên vì mày.
Tao biết, đã lâu rồi mày không lao động chân tay, chắc chắn một công việc nào đó hiện nay không thể thích hợp với đôi bàn tay đã quen dần với việc cầm bút của mày. Nhưng dù sao tao cũng hy vọng...)

***
Bẵng đi một thời gian dài khi đất nước bước vào giai đoạn mới, vì chia tỉnh nên tôi phải về tỉnh mới để công tác và cũng ít gặp hắn, chỉ biết tin hắn qua một số người quen nói lại. Nghe đâu, hắn tiếp tục đi học thêm một lớp Đại học Pháp lý tại chức nữa và sau đó chuyển sang một cơ quan thuế. Còn vợ hắn đã nghỉ việc theo chế độ 176 và ở nhà nội trợ. Tôi và bạn bè cứ tấm tắc khen hắn là một thằng có chí, biết vượt qua mọi hoàn cảnh để tự vươn lên...đang mừng cho hắn thì...
Nhân một chuyến đi công tác, tôi ghé lại thăm gia đình hắn. Vợ hắn nhìn tôi một cách buồn bã, nước mắt rưng rưng kể lại:
- Lấy nhau từng ấy năm trời mà em không tài nào hiểu được anh ấy. Hồi anh ấy học xong lớp Pháp lý, rồi chuyển sang cơ quan thuế, thấy anh ấy lầm lỳ hẳn, chẳng bao giờ nói chuyện với em về công việc của anh ấy. Năm ngoái, trong một lần cãi nhau với ông Chi cục phó về thủ tục giải quyết một lô hàng hoá trong một vụ buôn lậu, bởi ông ta ỷ quyền lãnh đạo bắt anh ấy làm trái luật, thế là anh ấy đã đánh ông ta tím cả một bên mắt rồi bỏ về. Vài hôm sau anh ấy bán luôn chiếc xe máy của gia đình, đưa cho em một nửa tiền rồi nói đi thăm bạn ít ngày. Vậy mãi đến hôm nay anh ấy vẫn chưa về!
Nhìn khuôn mặt nhăn nhúm của vợ hắn nhoà đi trong những giọt nước mắt, tôi cầm lòng không đậu. Tự nhiên lúc này một nỗi giận vô cớ từ đâu tràn về ngập trong lòng tôi, làm tôi chơi vơi như là đang rơi trong một miền nào đó. Im lặng một hồi lâu, tôi nghẹn ngào hỏi:
- Thế em có biết anh ấy đi thăm ai ở đâu không?
- Em chỉ nghe mấy người bạn nói là anh ấy đi Tây Nguyên!

***
(...Chí ạ!Tao thề với mày rằng, tao nói không sai là mày đang tìm cách đi phát rẫy trồng cà phê là đúng một trăm phần trăm. Không có lý gì để mày phải bỏ đi hơn cả năm trời như vậy. Tao biết, với một thằng như mày thì dám làm tất cả mọi điều như vậy lắm, chỉ trừ những việc mày cho là bon chen xấu xa là mày không làm thôi. Mày muốn làm cái gì thì làm, nhưng tao chỉ mong có một điều là mày phải biết các cụ ngày xưa đã nói: “Thiên thời, địa lợi, nhân hoà!” Và cả ba điều ấy đều có ý nghĩa như nhau cả, thiếu đi một cái là không bao giờ có thể thành công được. Mày có biết hiện nay giá cà phê đang bị hạ một cách thảm hại không? Hay là mày biết mà không thèm để ý để rồi tự hành xác mày, hoặc là mày lại một lần nữa đem cuộc sống của mày ra để đánh đổi thêm một lần. Tao nói thật với mày nhé, ở cái tuổi của tụi mình bây giờ không cho phép thử nghiệm thêm một lần nào nữa đâu Chí ạ!
Và cuối cùng là tao hỵ vọng, hy vọng là mày phải ngộ ra một điều: Sự tự do không phải là cứ chui vào trong rừng sâu hay là ra ngoài hải đảo mới tìm thấy được. Mà sự tự do nằm ở ngay trong năng lực và sở trường của mỗi con người, tức là nằm ngay trong cái thằng Ngây của mày đấy Chí ạ! Hãy bằng lòng với cái mày đang có đi cái đã, việc gì phải dấn thân thêm một lần như thế. Tới đây tao hy vọng mày sẽ đọc được những dòng chữ này, bởi lẽ dù gì thì mày cũng khó bỏ được thói quen đọc sách báo. Hy vọng của tao dẫu rất mong manh, nhưng tao vẫn luôn hy vọng, bởi vì tao cho rằng, tao đang làm một công việc có ích cho bạn tao và cho cả vợ con nó...)

***
...Tôi viết câu chuyện này ra đây không phải hy vọng về một điều gì đó to tát như là để lay chuyển suy nghĩ của một con người, nhưng tôi phải viết, viết để mà hy vọng...Vì chỉ có cách này mới mong chuyển được đến bạn tôi những lời nói chân thành của một người bạn thân chí cốt.
Hy vọng mong manh, nhưng dù sao cũng là hy vọng...
Từ cái hồi bạn tôi đi cứu tàu khi bão lụt rồi xảy ra cái sự cố đánh Trưởng Phòng tổ chức buộc phải thuyên chuyển công tác, cho đến sau này là đánh ông Chi cục phó cơ quan Thuế bởi sự lộng quyền của ông ta, thì mọi người đều cho bạn tôi là kẻ đánh lãnh đạo có hệ thống, đó là một thái độ cực đoan và hành động của kẻ mất trí.
Nhưng như ở trên tôi đã nói: Cuộc sống đầy rẫy những bất ngờ và luôn ẩn nấp ở đâu đó chỉ chờ những ai hí hởn là lao ra vồ lấy. Và hôm nay chính tôi lại là nạn nhân của những bất ngờ ấy.
Ngày hôm trước, khi đang ngồi viết lách nhì nhằng thì tôi nhận được một gói bưu phẩm. Mở gói bưu phẩm ra trong đó chỉ có một gói cà phê loại 1kg mang nhãn hiệu “Chí Trung”. Đây là một thương hiệu cà phê đang được thị trường ưa chuộng và quảng cáo ì xèo trên tivi hàng ngày. Tôi xăm xoi hàng tiếng đồng hồ mà không biết gì hơn ngoài thông tin dán bên ngoài gói bưu phẩm mang dòng chữ: “Công ty TNHH chế biến nông thổ sản Chí Trung”. Địa chỉ...Thị xã Buôn Mê Thuột. Tôi cứ nghĩ đây lại là một trò quảng cáo mới của công ty này nên không tiếp tục tìm hiểu kỹ, còn cái thông điệp “Khơi nguồn sáng tạo” ghi trên đó có làm tôi thán phục một chút cho người nghĩ ra câu ấy.
Nhưng rồi sáng hôm sau, khi tôi bắt đầu cầm bút viết thì lại nhớ tới hắn. Vội vã tìm số điện thoại điện cho một người bạn ở Tây Nguyên, tôi được biết: Cái công ty TNHH chế biến nông thổ sản Chí Trung ấy chính là của hắn và người bạn cùng nhau thành lập từ lâu nay. Thấy cà phê hạt “rớt” giá, hai người đã hè nhau tổ chức Công ty chế biến này để cùng nhau kinh doanh cà phê trong thời kỳ mới.
Thì ra sau khi đánh ông Chi cục phó xong, hắn nghỉ việc Nhà nước, nhận chế độ “một cục” rồi ra đi mà không cho ai biết. Và có nghĩa là một lần nữa hắn lại vượt qua được “bão lụt” của cuộc sống.
Nhưng dù sao thì tôi cũng phải viết ra đây để mà hy vọng...
                                                    Vào thu 8/2004



                                                       
                                                     Lãng Hiển Xuân



Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Bỗng nhiên…



Hoàng hôn trên Phá Tam Giang

Bỗng nhiên…một ngày…

Bỗng nhiên…
một ngày
Ta có em.
Thiên thần có đằng sau lưng hàng ngàn chàng trai…
xếp hàng
để đến lượt được xem gót…

Bỗng nhiên…
một ngày
Khóe lệ ta không còn giọt nào được gọi là nước mắt
có chăng
Chỉ là những giọt máu khô đã viên tròn…

Bỗng nhiên…
một ngày
biển chợt thôi không còn dạt dào ve vãn
không cả bão giông tố lốc sóng thần
cả đại dương thành tấm gương xanh phẳng lặng…
một ngày
Nơi neo đậu tình yêu của chúng ta
trên bản đồ yêu của thế giới
Bỗng nhiên…
Biến mất…
hoặc chỉ còn là một lọt thỏm nào đó trong bể khổ của nhân loại này!!!
Và những cái bỗng nhiên…
như biển xanh ngừng lặng
như những giọt lệ đã khô
những con tàu ra khơi
có còn ý nghĩa …
Dù đã có được em trong vòng tay ôm
trên con đường mà hàng ngày ta vẫn luôn tình tự
nụ hôn hằng mơ ước
Chắc còn có ý nghĩa gì không…

Rồi một ngày
bỗng nhiên
Những nỗi sợ hãi từ tiền kiếp
trong đầu óc của nhân loại này
Tự dưng biến mất…
Cả em và ta
Hóa…thành nắm đất ven đường…

Vào Thu 2011
Lãng Hiển Xuân


Chủ Nhật, 23 tháng 5, 2010

Phim cổ trang Việt nam...bao giờ?


Vua quan





Bao giờ cho đến ... bao giờ?



Chừng nào mà phim cổ trang của chúng ta vẫn còn quá nhiều sạn theo kiểu Quân Tướng cưỡi ngựa mà trông như trưởng giả cưỡi lừa trong truyện ngụ ngôn thì khán giả nước nhà vẫn còn phải xem phim dã sử, cổ trang của Hàn, của tàu, ... còn lớp trẻ thì vẫn cứ thuộc sử nước người hơn là nhớ sử Việt Nam ...

Hiểu theo nghĩa thông thường, phim cổ trang là những bộ phim mà các nhân vật ăn vận trang phục thời xưa. Đó có thể là phim lịch sử, phim dã sử hay đơn thuần chỉ là phim mượn bối cảnh thời xưa. Và một điều ai cũng biết rằng để có một bộ phim cổ trang "xem được", yếu tố tiên quyết là phải có một nhà biên kịch cực kỳ chuyên nghiệp, am hiểu lịch sử, thông lau cả dã sử lẫn chính sử .. . Những nhà biên kịch tầm cỡ như thế ở ta hiện có được mấy người? Nền văn học của chúng ta từng có những cuốn tiểu thuyết lịch sử khá hấp dẫn, nhưng đâu phải cứ là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử chắc tay là có thể trở thành một nhà biên kịch phim cổ trang được!

Yếu tố thứ hai quyết định thành công của phim là cần đến một nhà đạo diễn tài hoa, đủ "tầm", hay nôm na là phải có một "phông" văn hóa thật vững chắc, để có thể chuyển tải được hết những nội dung ý tưởng mà nhà biên kịch đã viết ra. Và đương nhiên, vị đạo diễn ấy cũng phải là người hiểu biết về lịch sử một cách có hệ thống. Tiếc thay, thực sự phải nói trắng ra rằng cứ với cung cách đào tạo và cơ chế làm việc như ở ta hiện nay thì chúng ta sẽ còn phải chờ rất lâu nữa mới có được những "nhà" như thế ...

Ngoài một kịch bản "sạch nước cản" và bàn tay đạo diễn tài hoa đủ tầm, yếu tố thứ ba không kém phần quan trọng quyết định thành bại của một bộ phim lại nằm ở chính diễn viên. Và chẳng giống như những thể loại phim khác, phim cổ trang thuộc dạng "kén diễn viên", bởi chưa kể đến tài năng, điều đầu tiên làm nên thành công của vai diễn cổ trang phải chính là dung mạo. Nhìn sang nước Láng giềng, chúng ta sẽ thấy không hiếm những diễn viên có vẻ bề ngoài dường như sinh ra là để dành cho thể loại phim này như Lưu Diệc Phi (vai Vương Nữ Yên trong Thiên Long Bát Bộ và Tiểu Long nữ trong Thần Điêu Đại Hiệp), là Tư Cầm Ca Oa (trong các vai Võ Tắc Thiên, Tư Hy Thái Hậu), là Lý Bảo Điền trong vai Tể tướng Lưu gù. Đó còn là Bào Quốc An vai Tào Tháo và Đường Quốc Cường vai Khổng Minh trong phim truyền hình Tam Quốc Diễn Nghĩa. (Họ thành công đến nỗi mà Đại Chiến Xích Bích - siêu phẩm điện ảnh của Ngô Vũ Sâm - mới đây đã bị không ít khán giả chê ỏng chê eo vai Khổng Minh của Kim Thành Vũ và vai Tào Tháo của Trương Phong Nghị!) Ngay cả với nền điện ảnh non trẻ về phim cổ trang như Hàn Quốc mà họ cũng rất chú ý đến vẻ đẹp cổ điển để chọn được diễn viên cho phim cổ trang mà nàng Dae Jang Geum - Lee Young Ae là một ví dụ điển hình.

Vậy còn ở Việt Nam thì sao? Đúng thì ra trong quá khứ, chừng hai thập kỷ trước, Việt Nam từng có những phim cổ trang tạm gọi là "xem được" như Đêm Hội Long Trì (1989), Lửa Cháy Thành Đại La (1989) ... với một dàn diễn viên khá ấn tượng như Thu Hà, Lý Hùng, Diễm Hương, Lê Tuấn Anh, Công Hậu, Việt Trinh ... Nhưng đầu thập niên 1990, khi phim cổ trang Việt bị đè bẹp bởi những phim võ thuật kiếm hiệp Hồng Kông, lứa diễn viên ấy cũng mỗi người mỗi ngả và sau lưng họ thiếu vắng một lực lượng kế cận mà khi dòng phim này được phục hồi trở lại thì các đạo diễn lại loay hoay trong việc tìm kiếm những gương mặt phù hợp. Khi bỏ tiền túi làm Tây Sơn Hào Kiệt, đạo diễn Lý Huỳnh vẫn chọn Lý Hùng vào vai vua Quang Trung, chẳng phải lý do làm là người "nhà" mà chỉ bởi đó là giải pháp an toàn và đỡ tốn kém nhất. Ông tâm sự: "Không chọn Lý Hùng tôi không biết chọn ai", và quả thật điểm qua các nam diễn viên hiện nay xem có được những ai có diện mạo, khả năng diễn xuất và tài võ thuật vượt qua được Lý Hùng?

Công bằng mà nói điện ảnh nước nhà đang khan hiếm những diễn viên có ngoại hình phù hợp với nhân vật cổ trang. Bộ phim lịch sử Trần Thủ Độ với kinh phí "khủng" nhất trong lịch sử phim ảnh Việt nam (51 tỉ đồng) cũng đang toát mồ hôi với sự cố "thay ngựa giữa đường". Vai diễn Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung ban đầu được nhắm cho á hậu Thiên Lý - cô gái sở hữu vẻ đẹp thuần khiết - sau những lum xum không đáng có (và một thực tế là cô không thể đảm đương nổi) thì đến nay vẫn chưa ngã ngũ được là sẽ thuộc về ai giữa một ca sĩ với một diễn viên đều có vẻ đẹp quá hiện đại, khó tương đồng với ý tưởng thẩm mỹ ban đầu. Khi diễn viên đã không có được thần thái và dung mạo phù hợp với tư chất nhân vật và với không khí thời đại ấy thì cái sự "giả giả", ngô ngô nghê nghê là không tránh khỏi. Khán giả truyền hình gần đây đã không khỏi bật cười khi xem những "nhân kiệt" trong một loạt video clip phục dựng mà vua quan, tướng lĩnh tướng mạo thì ngác ngơ, áo quần thì xốc xếch ... Nhìn cái cảnh một ông tướng cưỡi con ngựa nhỏ teo mà cứ ngỡ như là một tay trưởng giả đang cưỡi lừa đi chơi trong một câu truyện ngụ ngôn nào đó, thật buồn! Vẫn biết, đóng phim cổ trang chưa khi nào là dễ với những người trẻ sinh ra trong thời đại Internet, chuông nhạc hiphop giờ phải nhọc công học cưỡi ngựa, bắn cung hay những Lễ nghi Triều chính ... nhưng nếu không có sự đầu tư đến đầu đến đũa cho vai diễn thì những diễn viên ngày nay hoàn toàn có khả năng làm hỏng một bộ phim như thường.




Súng ống thế lày đánh sao lại được phim Tàu hả chời!!??


Nếu như ba yếu tố kể trên góp phần quyết định thành bại của một bộ phim cổ trang thì yếu tố phục trang, hóa trang lại là khâu ghi điểm hay mất điểm đầu tiên trong con mắt của khán giả. Hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển nghệ thuật sân khấu, điện ảnh và bây giờ đến truyền hình, vậy mà Việt Nam vẫn chưa có những họa sĩ hóa trang chuyên nghiệp. Mãi đến tháng 4 / 2009, cả nước mới có được 12 sinh viên tốt nghiệp lớp Cao đẳng Hóa trang chuyên nghiệp do trường Cao đẳng Sân khấu & Điện ảnh TP. HCM đào tạo. Thực ra trong quá trình học ở các trường sân khấu điện ảnh, các diễn viên tương lai cũng được học sơ qua về hóa trang, nhưng vài tiết học cũng chỉ đủ dừng lại ở việc khám phá các khái niệm "trang trí cho nhân vật "mà thôi. Chuyện nghe cứ như đùa nhưng lâu nay khâu hóa trang ở ta, trong tất cả các thể loại phim, gần như đều phó thác cho diễn viên tự làm hoặc nếu có thì làm các chuyên gia - đa số là những người chuyên làm trang điểm cho cô dâu - đảm nhiệm! Thế nên với những vai diễn cần đến sự hóa trang đặc biệt hay thậm chí chỉ đơn giản là những khuyết tật của cơ thể như mặt sẹo, bị khối u ... thì khán giả chẳng khó để mà nhận ra sự thô kệch, giả tạo. Người viết bài này đã từng đi theo một đoàn làm phim và chứng kiến cái cảnh chuyên gia hóa trang trong lúc tác nghiệp đã phải phát mấy cây kẹo cao su nhờ mọi người trong đoàn nhai kẹo để lấy bã ấy mà làm sẹo cho một diễn viên bị một cái sẹo do bom Napan để lại trên người!

Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân - người đang thực hiện dự án phim truyền hình Lều Chông từng kêu gọi "... tôi mong khán giả xem phim cổ trang lịch sử với một thái độ thân thiện .... Nếu cứ ngồi soi nhau từng cái cúc áo, từng cái khuyên tai xem có đúng thời kỳ lịch sử đó không thì mệt lắm, mệt cho cả người xem lẫn người làm ". Vâng, khán giả chỉ có thể (cố mà) thân thiện trong chừng mực cho phép chứ cẩu thả đến độ xe tăng chiến đấu mượn của bảo tàng vẫn còn nguyên đường kẻ sơn trắng trên bánh xích, quân hàm của quân đội Sài Gòn thì đeo lộn ngược ... như ở trong phim bộ lịch sử vẫn còn nóng hổi tính thời sự là "Dòng Sông Phẳng Lặng" thì chắc khó khán giả nào có thể "thương" được! Tương tự thế, bộ phim cổ trang hoành tráng đang thực hiện-Trần Thủ Độ - từ trang phục đến râu tóc hóa trang đều phải thuê chuyên gia Trung Quốc làm, chưa biết hay dở thế nào nhưng cũng khiển niềm vui của khán giả Việt trở nên không trọn vẹn.!

Trong bối cảnh hiện tại, những vấn đề về lịch sử cách thời đại chúng ta chúng ta hàng trăm, hàng ngàn năm, ngay cả các nhà sử học cũng đang còn tranh cãi với nhau, thì những người làm phim cổ trang lại còn phải chịu thêm nhiều áp lực khác nữa ngoài phim.
Tôi nhớ không lầm thì cách đây khoảng hai chục năm, Hãng phim truyện Việt Nam đã xin Nhà nước đầu tư cho một phim trường, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn phải đi thuê phim trường lẫn đạo cụ ở tận bên Trung Quốc để làm một phim về người Việt, cho người Việt xem! Có lẽ đầu tư cho một sân golf thì mau thu được lợi nhuận nhanh hơn làm một phim trường chăng?!

Thẳng thắn nhìn nhận, hẳn ai cũng thấy rằng chúng ta đang thiếu quá nhiều yếu tố để có thể làm ra những bộ phim cổ trang tử tế, đúng nghĩa. Và nếu không sớm khắc phục được đồng bộ những điểm yếu này thì tương lai của phim cổ trang Việt vẫn chỉ là những thước phim ngô nghê, đầy sạn (trong khi khán giả ngày càng tính kỹ, khắt khe hơn) và con em chúng ta có thể vẫn phải thuộc sử nước khác tốt hơn sử nước mình, vậy thôi! Mất tiền mất của còn có cơ hội lấy lại, chứ nếu mất Văn hóa thì chúng ta sẽ mất hết!


Ân Hựu

Sành Điệu 9 / 2009

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2009

Chùa Huế...

CHÙA HUẾ
NƠI HÀNH HƯƠNG CỦA VĂN HOÁ TÂM LINH

o0o
Lãng Hiển Xuân

Chẳng hiểu sao,từ thuở còn thơ ấu,tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp..!
Nhưng từ khi lớn lên, được về sinh sống ở Huế khi đất nước vừa thống nhất và cho đến giờ đây khi đã sắp bước qua ngưỡng của cái tuổi “nhi bất hoặc”, chợt nhiên tôi bỗng thấy những ngôi chùa ở cái xứ sở này có một sức hút gì đó thật lạ...Huế là một vùng đất tuy không rộng lắm nhưng lại có đến hơn 400 ngôi chùa lớn nhỏ, dù có là dân ngoại đạo đi chăng nữa thì cũng vẫn bị hình ảnh của những mái chùa đó ám ảnh và in đậm sâu vào trong trí nhớ...
Từ những năm đầu của thập kỷ 80, cuộc sống còn biết bao gian khó, gia đình tôi lại còn nhiều gian khó hơn. Người em trai tôi đi bộ đội bị hy sinh tại chiến trường Campuchia và cha tôi rất buồn rồi cũng lâm bạo bệnh mà mất. Mẹ tôi đi qua những nỗi buồn ấy rồi lặng lẽ đem tên tuổi của những đứa con còn lại của mẹ lên chùa để quy y nơi ngài Thích Đôn Hậu, một nhà sư danh tiếng, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những hoạt động ích đạo giúp đời, vị trụ trì đáng kính của ngôi chùa Linh Mụ nổi tiếng…
Thuở ấy, tôi lên chùa chỉ thấy chùa là…”chùa” một cách u tịch và các vị sư thì cứ như là những Tiên Ông xa vời vợi thật khó mà chạm gần tới được...Vậy mà chả hiểu sao, ba mẹ con chúng tôi và cả bà ngoại của tôi được ngài Đôn Hậu đặt cho những Pháp danh thật đẹp: Ngoại là Tâm Phước, mẹ là Tâm Hiếu, tôi là Tâm Thảo và em gái út là Tâm Hạnh...Thế là tôi thành Phật tử từ đó!
Rồi cuộc sống lại cứ cuốn anh em chúng tôi đi, để chỉ vẫn một mình mẹ tôi lặng lẽ lên chùa sinh hoạt cùng khuôn hội Phật giáo trong khói hương và trong những lời kinh Nhật tụng...
Hồi ấy,chùa Linh Mụ trông thật thâm nghiêm vắng lặng. Xưa kia nơi đây vốn là một quả đồi hoang thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà, nay là phường Kim Long, thành phố Huế. Dưới con mắt của các nhà phong thủy thì vị trí của chùa Thiên Mụ quả là một nơi đắc địa hiếm có để dựng lên một ngôi chùa mang tầm Quốc Tự. Từ dưới mép sông trông lên, tháp Phước Duyên cao vút lên như muốn dẫn đưa tâm hồn con người ta đến một cõi cao xanh nào đó vừa rất xa xôi nhưng cũng thật gần gũi. Qua khỏi cổng chùa, nơi có những bức tượng của các ngài Hộ pháp Kim cang canh giữ, một không gian mở ra thoáng rộng đầy rêu phong của sân chùa càng gợi lên một cảm giác như đang được trở về với quá khứ, trở về với “bản lai diện mục” của chính mình. Có lẽ,chỉ có ở chùa Linh Mụ mới có một cái sân trước Phật điện rộng mênh mông đến như thế. Bước vào Phật điện, bắt gặp đức Phật Di lặc tạc bằng đồng ngồi một mình, áo phanh hở ngực, bụng phệ ngay giữa gian trước với nụ cười Hỉ,Xả như đã rũ bỏ tất thảy mọi tục lụy. Chỉ với nụ cười này thôi cũng đủ để cho ta thấy nhẹ lòng khi đến với chốn thiền môn. Có Hỷ,Xả chúng ta mới có thể nở được nụ cười vui tươi chân thật và hạnh phúc đến như vậy... Sự thâm nghiêm và cổ kính của Phật điện còn làm cho lòng tôi tự nhiên phải lắng lại, để rồi được thấy nhẹ nhàng thảnh thơi hơn trong cõi huyền hoặc, không còn có những ưu tư về cuộc đời và thân phận...Cũng ở nơi này,không chỉ một lần Bà Mụ linh thiêng đã chỉ cho chúa Nguyễn Hoàng nơi đóng đô, lập nên một triều đại nhà Nguyễn ở Đàng trong, mà hơn thế đã còn chỉ cho biết bao thân phận khác hướng tới tâm thiện, lòng từ bi để sống tốt hơn trong cuộc sống này...
Giờ đây, khi đời sống kinh tế đã phần nào đỡ hơn thuở ấy, nhưng áp lực của công việc mưu sinh cũng chẳng giảm đi được là bao bởi những toan lo khác...Nhất là từ khi đất nước đổi mới, tự nhiên tôi thấy người ta lại rủ nhau đi đến chùa thật nhiều, đặc biệt là tới các ngôi chùa cổ...Người đi chùa giờ đây đến với chùa trong những tâm thế rất khác nhau và cũng từ những ngày đó không khí sinh hoạt ở chốn thiền môn bắt đầu có cái gì đó khang khác, không còn vẻ u tịch vắng lặng như ngày nào nữa...
Nhưng kỳ thực, vẻ đẹp của những ngôi chùa cổ kính như Linh Mụ có từ năm 1601, Báo Quốc (1674), Từ Ðàm (1683), Thuyền Tôn (1709), Phước Thọ Am (1831), Từ Hiếu (1843), Diệu Ðế (1844)...đã hấp dẫn con người ta trong những cuộc “Hành hương tâm linh” khi tìm về với quá khứ thì những ngôi chùa mới được tạo lập sau này lại hút hồn con người ta ở trong một hành trình khác... “Hành trình đến với thực tại..!” và Chùa Huyền Không Sơn thượng là một ngôi chùa như vậy.!
Vốn nơi đây là một vùng rừng núi hoang vu do Nhà nước giao đất giao rừng cho nhà chùa khai hoang, trồng rừng và bảo vệ...nhưng đã được Thượng tọa Giới Ðức, bút hiệu Minh Đức Triều Tâm Ảnh, khai sơn và tạo dựng từ năm 1989...
Khi cơn bão kinh tế thị trường vừa bắt đầu ào tới Huế, theo chân thi sĩ “Phương xích lô”, tôi lên đây chơi với một tâm thế như chỉ là một cuộc thư giãn tâm hồn bởi rất nhiều lẽ. Chùa lúc đó quả thực còn rất đơn sơ, chỉ là một ngôi Thảo am có cái tên thật thơ mộng là “Phong Trúc Am”, nơi tá túc và an nghỉ cúa sư Giới Đức. Hơn nữa, ở nơi đây còn có một nhà thơ Thiền, nhà thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh...mà những bài thơ Thiền của Thầy đã vượt ra khỏi cánh rừng để đi đến mọi nẻo trên đất nước này…
Đến bây giờ, dẫu vẫn chưa được khang trang to lớn như những ngôi chùa khác, nhưng Huyền Không Sơn thượng lại có một không gian vườn, rừng, núi thật huyền ảo. Chùa ở đây được kiến tạo với một Chánh điện giản dị bằng gỗ, mái ngói trông rất hiền hoà và thanh thoát, lại vừa mộc mạc dựa trên nền xanh hùng vĩ của núi rừng. Trong một không gian, vừa thôn dã, vừa rất lãng mạn và như hoà lẫn vào với thiên nhiên, chợt nhiên bắt gặp một cặp câu đối viết theo lối thư pháp treo trước Phật điện đã làm cho con người tôi nhẹ bỗng đi và tâm hồn tôi như chợt nhận cảm ra một chân lý nào đó vừa ập tới:

Nghe Đạo, hương rừng theo gió đến
Đọc Thơ, trăng sáng vượt non về.*

Cái khoảnh khắc nhẹ bỗng chợt nhiên ấy dường như đã thức dậy trong con người tôi một luồng điện cảm thật lạ, giống như khi đang tự nhận thức được chính tâm hồn mình và chỉ với riêng mình…!
Khiêm nhường về tầm vóc và sự bề thế của Phật điện Huyền Không Sơn thượng làm tôi thấy Đạo Phật sao mà thật gần gũi với nhân gian với con người đến vậy. Vườn cảnh Huyền Không như là một điểm nhấn về sự giao cảm giữa con người với thiên nhiên trời đất và được nâng lên thành nghệ thuật đặc sắc của một lối kiến tạo về cái đẹp. Mỗi công trình ở đây đều sử dụng chất liệu từ tranh, tre, nứa, lá, gỗ... mộc mạc, dung dị nhưng tất cả đều toát lên bản sắc của văn hoá dân tộc, văn hóa nhà vườn của xứ Huế. Dù cũng chỉ là do sự sắp xếp của bàn tay con người, nhưng với một ý thức lấy thiên nhiên làm chủ, dựa vào cảnh quan chung để kiến tạo và tìm trong cái hài hòa của thiên nhiên để làm thành cái hài hòa của kiến trúc, sư thầy Minh Đức đã biến nơi này trở thành một nơi có sức hút rất lạ kỳ.
Ở vườn cảnh của Huyền Không còn có rất nhiều hoa cỏ đủ loại với hương thơm phảng phất xa gần của các loại thảo mộc quý được đưa về trồng ở đây. Cùng với những giò phong lan trên cao,bên dưới là những chậu cây cảnh, cội mai già, tùng bách bên lối cỏ đầy rêu phong và những khóm Địa Lan khoe vẻ đẹp tao nhã thật hoang sơ. Kể cả mỗi một hòn đá được đem về đặt ở nơi đây cũng mang được những tiếng nói rất riêng trong vẻ đẹp xù xì góc cạnh của mình. Trong một lần tôi đưa PGS.TS Tôn Đại lên thăm chùa, PGS.TS đã gọi nơi đây chính là một “Bài thơ về Kiến trúc phong cảnh”...
Đến với Huyền Không Sơn thượng là đến với cái vĩnh hằng của sự sống, của cái đẹp. Và ở đây tôi cũng đã tìm thấy được sự bằng an thanh tịnh của lòng mình :

Dấu chân thiền vẽ con đường
Mai kia mốt nọ yêu thương bụi vàng.*



Trần gian trăm việc tạm quên
Thơ đề góc núi đầy hiên nắng vàng
Gió trăng thế sự không bàn
Giấc thiền lặng lẽ nhẹ nhàng tình không!*

Những dòng thơ,mỗi con chữ trong “Huyền Không Sơn Uyển” dường như lại thêm một sự níu giữ khác cho bước chân của những lữ khách đã từng tới đây không muốn rời khỏi chốn non thiền cao xanh này. Ẩn dụ trong những dòng thơ bay cùng dáng chữ,nét bút ấy của Nhà sư Nghệ sĩ như là một sự hành thiền đã lắng lại sự trong sáng,thanh thản vốn có trong tận đáy sâu tâm hồn ở mỗi con người. Với bức tranh cảnh trí non ngàn ấy, nơi này không thể mang cái tên nào khác ngoài hai chữ Huyền Không!
Thu 2008
Lãng Hiển Xuân
(*)Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh.