Chủ Nhật, 23 tháng 5, 2010

Phim cổ trang Việt nam...bao giờ?


Vua quan





Bao giờ cho đến ... bao giờ?



Chừng nào mà phim cổ trang của chúng ta vẫn còn quá nhiều sạn theo kiểu Quân Tướng cưỡi ngựa mà trông như trưởng giả cưỡi lừa trong truyện ngụ ngôn thì khán giả nước nhà vẫn còn phải xem phim dã sử, cổ trang của Hàn, của tàu, ... còn lớp trẻ thì vẫn cứ thuộc sử nước người hơn là nhớ sử Việt Nam ...

Hiểu theo nghĩa thông thường, phim cổ trang là những bộ phim mà các nhân vật ăn vận trang phục thời xưa. Đó có thể là phim lịch sử, phim dã sử hay đơn thuần chỉ là phim mượn bối cảnh thời xưa. Và một điều ai cũng biết rằng để có một bộ phim cổ trang "xem được", yếu tố tiên quyết là phải có một nhà biên kịch cực kỳ chuyên nghiệp, am hiểu lịch sử, thông lau cả dã sử lẫn chính sử .. . Những nhà biên kịch tầm cỡ như thế ở ta hiện có được mấy người? Nền văn học của chúng ta từng có những cuốn tiểu thuyết lịch sử khá hấp dẫn, nhưng đâu phải cứ là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử chắc tay là có thể trở thành một nhà biên kịch phim cổ trang được!

Yếu tố thứ hai quyết định thành công của phim là cần đến một nhà đạo diễn tài hoa, đủ "tầm", hay nôm na là phải có một "phông" văn hóa thật vững chắc, để có thể chuyển tải được hết những nội dung ý tưởng mà nhà biên kịch đã viết ra. Và đương nhiên, vị đạo diễn ấy cũng phải là người hiểu biết về lịch sử một cách có hệ thống. Tiếc thay, thực sự phải nói trắng ra rằng cứ với cung cách đào tạo và cơ chế làm việc như ở ta hiện nay thì chúng ta sẽ còn phải chờ rất lâu nữa mới có được những "nhà" như thế ...

Ngoài một kịch bản "sạch nước cản" và bàn tay đạo diễn tài hoa đủ tầm, yếu tố thứ ba không kém phần quan trọng quyết định thành bại của một bộ phim lại nằm ở chính diễn viên. Và chẳng giống như những thể loại phim khác, phim cổ trang thuộc dạng "kén diễn viên", bởi chưa kể đến tài năng, điều đầu tiên làm nên thành công của vai diễn cổ trang phải chính là dung mạo. Nhìn sang nước Láng giềng, chúng ta sẽ thấy không hiếm những diễn viên có vẻ bề ngoài dường như sinh ra là để dành cho thể loại phim này như Lưu Diệc Phi (vai Vương Nữ Yên trong Thiên Long Bát Bộ và Tiểu Long nữ trong Thần Điêu Đại Hiệp), là Tư Cầm Ca Oa (trong các vai Võ Tắc Thiên, Tư Hy Thái Hậu), là Lý Bảo Điền trong vai Tể tướng Lưu gù. Đó còn là Bào Quốc An vai Tào Tháo và Đường Quốc Cường vai Khổng Minh trong phim truyền hình Tam Quốc Diễn Nghĩa. (Họ thành công đến nỗi mà Đại Chiến Xích Bích - siêu phẩm điện ảnh của Ngô Vũ Sâm - mới đây đã bị không ít khán giả chê ỏng chê eo vai Khổng Minh của Kim Thành Vũ và vai Tào Tháo của Trương Phong Nghị!) Ngay cả với nền điện ảnh non trẻ về phim cổ trang như Hàn Quốc mà họ cũng rất chú ý đến vẻ đẹp cổ điển để chọn được diễn viên cho phim cổ trang mà nàng Dae Jang Geum - Lee Young Ae là một ví dụ điển hình.

Vậy còn ở Việt Nam thì sao? Đúng thì ra trong quá khứ, chừng hai thập kỷ trước, Việt Nam từng có những phim cổ trang tạm gọi là "xem được" như Đêm Hội Long Trì (1989), Lửa Cháy Thành Đại La (1989) ... với một dàn diễn viên khá ấn tượng như Thu Hà, Lý Hùng, Diễm Hương, Lê Tuấn Anh, Công Hậu, Việt Trinh ... Nhưng đầu thập niên 1990, khi phim cổ trang Việt bị đè bẹp bởi những phim võ thuật kiếm hiệp Hồng Kông, lứa diễn viên ấy cũng mỗi người mỗi ngả và sau lưng họ thiếu vắng một lực lượng kế cận mà khi dòng phim này được phục hồi trở lại thì các đạo diễn lại loay hoay trong việc tìm kiếm những gương mặt phù hợp. Khi bỏ tiền túi làm Tây Sơn Hào Kiệt, đạo diễn Lý Huỳnh vẫn chọn Lý Hùng vào vai vua Quang Trung, chẳng phải lý do làm là người "nhà" mà chỉ bởi đó là giải pháp an toàn và đỡ tốn kém nhất. Ông tâm sự: "Không chọn Lý Hùng tôi không biết chọn ai", và quả thật điểm qua các nam diễn viên hiện nay xem có được những ai có diện mạo, khả năng diễn xuất và tài võ thuật vượt qua được Lý Hùng?

Công bằng mà nói điện ảnh nước nhà đang khan hiếm những diễn viên có ngoại hình phù hợp với nhân vật cổ trang. Bộ phim lịch sử Trần Thủ Độ với kinh phí "khủng" nhất trong lịch sử phim ảnh Việt nam (51 tỉ đồng) cũng đang toát mồ hôi với sự cố "thay ngựa giữa đường". Vai diễn Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung ban đầu được nhắm cho á hậu Thiên Lý - cô gái sở hữu vẻ đẹp thuần khiết - sau những lum xum không đáng có (và một thực tế là cô không thể đảm đương nổi) thì đến nay vẫn chưa ngã ngũ được là sẽ thuộc về ai giữa một ca sĩ với một diễn viên đều có vẻ đẹp quá hiện đại, khó tương đồng với ý tưởng thẩm mỹ ban đầu. Khi diễn viên đã không có được thần thái và dung mạo phù hợp với tư chất nhân vật và với không khí thời đại ấy thì cái sự "giả giả", ngô ngô nghê nghê là không tránh khỏi. Khán giả truyền hình gần đây đã không khỏi bật cười khi xem những "nhân kiệt" trong một loạt video clip phục dựng mà vua quan, tướng lĩnh tướng mạo thì ngác ngơ, áo quần thì xốc xếch ... Nhìn cái cảnh một ông tướng cưỡi con ngựa nhỏ teo mà cứ ngỡ như là một tay trưởng giả đang cưỡi lừa đi chơi trong một câu truyện ngụ ngôn nào đó, thật buồn! Vẫn biết, đóng phim cổ trang chưa khi nào là dễ với những người trẻ sinh ra trong thời đại Internet, chuông nhạc hiphop giờ phải nhọc công học cưỡi ngựa, bắn cung hay những Lễ nghi Triều chính ... nhưng nếu không có sự đầu tư đến đầu đến đũa cho vai diễn thì những diễn viên ngày nay hoàn toàn có khả năng làm hỏng một bộ phim như thường.




Súng ống thế lày đánh sao lại được phim Tàu hả chời!!??


Nếu như ba yếu tố kể trên góp phần quyết định thành bại của một bộ phim cổ trang thì yếu tố phục trang, hóa trang lại là khâu ghi điểm hay mất điểm đầu tiên trong con mắt của khán giả. Hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển nghệ thuật sân khấu, điện ảnh và bây giờ đến truyền hình, vậy mà Việt Nam vẫn chưa có những họa sĩ hóa trang chuyên nghiệp. Mãi đến tháng 4 / 2009, cả nước mới có được 12 sinh viên tốt nghiệp lớp Cao đẳng Hóa trang chuyên nghiệp do trường Cao đẳng Sân khấu & Điện ảnh TP. HCM đào tạo. Thực ra trong quá trình học ở các trường sân khấu điện ảnh, các diễn viên tương lai cũng được học sơ qua về hóa trang, nhưng vài tiết học cũng chỉ đủ dừng lại ở việc khám phá các khái niệm "trang trí cho nhân vật "mà thôi. Chuyện nghe cứ như đùa nhưng lâu nay khâu hóa trang ở ta, trong tất cả các thể loại phim, gần như đều phó thác cho diễn viên tự làm hoặc nếu có thì làm các chuyên gia - đa số là những người chuyên làm trang điểm cho cô dâu - đảm nhiệm! Thế nên với những vai diễn cần đến sự hóa trang đặc biệt hay thậm chí chỉ đơn giản là những khuyết tật của cơ thể như mặt sẹo, bị khối u ... thì khán giả chẳng khó để mà nhận ra sự thô kệch, giả tạo. Người viết bài này đã từng đi theo một đoàn làm phim và chứng kiến cái cảnh chuyên gia hóa trang trong lúc tác nghiệp đã phải phát mấy cây kẹo cao su nhờ mọi người trong đoàn nhai kẹo để lấy bã ấy mà làm sẹo cho một diễn viên bị một cái sẹo do bom Napan để lại trên người!

Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân - người đang thực hiện dự án phim truyền hình Lều Chông từng kêu gọi "... tôi mong khán giả xem phim cổ trang lịch sử với một thái độ thân thiện .... Nếu cứ ngồi soi nhau từng cái cúc áo, từng cái khuyên tai xem có đúng thời kỳ lịch sử đó không thì mệt lắm, mệt cho cả người xem lẫn người làm ". Vâng, khán giả chỉ có thể (cố mà) thân thiện trong chừng mực cho phép chứ cẩu thả đến độ xe tăng chiến đấu mượn của bảo tàng vẫn còn nguyên đường kẻ sơn trắng trên bánh xích, quân hàm của quân đội Sài Gòn thì đeo lộn ngược ... như ở trong phim bộ lịch sử vẫn còn nóng hổi tính thời sự là "Dòng Sông Phẳng Lặng" thì chắc khó khán giả nào có thể "thương" được! Tương tự thế, bộ phim cổ trang hoành tráng đang thực hiện-Trần Thủ Độ - từ trang phục đến râu tóc hóa trang đều phải thuê chuyên gia Trung Quốc làm, chưa biết hay dở thế nào nhưng cũng khiển niềm vui của khán giả Việt trở nên không trọn vẹn.!

Trong bối cảnh hiện tại, những vấn đề về lịch sử cách thời đại chúng ta chúng ta hàng trăm, hàng ngàn năm, ngay cả các nhà sử học cũng đang còn tranh cãi với nhau, thì những người làm phim cổ trang lại còn phải chịu thêm nhiều áp lực khác nữa ngoài phim.
Tôi nhớ không lầm thì cách đây khoảng hai chục năm, Hãng phim truyện Việt Nam đã xin Nhà nước đầu tư cho một phim trường, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn phải đi thuê phim trường lẫn đạo cụ ở tận bên Trung Quốc để làm một phim về người Việt, cho người Việt xem! Có lẽ đầu tư cho một sân golf thì mau thu được lợi nhuận nhanh hơn làm một phim trường chăng?!

Thẳng thắn nhìn nhận, hẳn ai cũng thấy rằng chúng ta đang thiếu quá nhiều yếu tố để có thể làm ra những bộ phim cổ trang tử tế, đúng nghĩa. Và nếu không sớm khắc phục được đồng bộ những điểm yếu này thì tương lai của phim cổ trang Việt vẫn chỉ là những thước phim ngô nghê, đầy sạn (trong khi khán giả ngày càng tính kỹ, khắt khe hơn) và con em chúng ta có thể vẫn phải thuộc sử nước khác tốt hơn sử nước mình, vậy thôi! Mất tiền mất của còn có cơ hội lấy lại, chứ nếu mất Văn hóa thì chúng ta sẽ mất hết!


Ân Hựu

Sành Điệu 9 / 2009

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2009

Chùa Huế...

CHÙA HUẾ
NƠI HÀNH HƯƠNG CỦA VĂN HOÁ TÂM LINH

o0o
Lãng Hiển Xuân

Chẳng hiểu sao,từ thuở còn thơ ấu,tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp..!
Nhưng từ khi lớn lên, được về sinh sống ở Huế khi đất nước vừa thống nhất và cho đến giờ đây khi đã sắp bước qua ngưỡng của cái tuổi “nhi bất hoặc”, chợt nhiên tôi bỗng thấy những ngôi chùa ở cái xứ sở này có một sức hút gì đó thật lạ...Huế là một vùng đất tuy không rộng lắm nhưng lại có đến hơn 400 ngôi chùa lớn nhỏ, dù có là dân ngoại đạo đi chăng nữa thì cũng vẫn bị hình ảnh của những mái chùa đó ám ảnh và in đậm sâu vào trong trí nhớ...
Từ những năm đầu của thập kỷ 80, cuộc sống còn biết bao gian khó, gia đình tôi lại còn nhiều gian khó hơn. Người em trai tôi đi bộ đội bị hy sinh tại chiến trường Campuchia và cha tôi rất buồn rồi cũng lâm bạo bệnh mà mất. Mẹ tôi đi qua những nỗi buồn ấy rồi lặng lẽ đem tên tuổi của những đứa con còn lại của mẹ lên chùa để quy y nơi ngài Thích Đôn Hậu, một nhà sư danh tiếng, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những hoạt động ích đạo giúp đời, vị trụ trì đáng kính của ngôi chùa Linh Mụ nổi tiếng…
Thuở ấy, tôi lên chùa chỉ thấy chùa là…”chùa” một cách u tịch và các vị sư thì cứ như là những Tiên Ông xa vời vợi thật khó mà chạm gần tới được...Vậy mà chả hiểu sao, ba mẹ con chúng tôi và cả bà ngoại của tôi được ngài Đôn Hậu đặt cho những Pháp danh thật đẹp: Ngoại là Tâm Phước, mẹ là Tâm Hiếu, tôi là Tâm Thảo và em gái út là Tâm Hạnh...Thế là tôi thành Phật tử từ đó!
Rồi cuộc sống lại cứ cuốn anh em chúng tôi đi, để chỉ vẫn một mình mẹ tôi lặng lẽ lên chùa sinh hoạt cùng khuôn hội Phật giáo trong khói hương và trong những lời kinh Nhật tụng...
Hồi ấy,chùa Linh Mụ trông thật thâm nghiêm vắng lặng. Xưa kia nơi đây vốn là một quả đồi hoang thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà, nay là phường Kim Long, thành phố Huế. Dưới con mắt của các nhà phong thủy thì vị trí của chùa Thiên Mụ quả là một nơi đắc địa hiếm có để dựng lên một ngôi chùa mang tầm Quốc Tự. Từ dưới mép sông trông lên, tháp Phước Duyên cao vút lên như muốn dẫn đưa tâm hồn con người ta đến một cõi cao xanh nào đó vừa rất xa xôi nhưng cũng thật gần gũi. Qua khỏi cổng chùa, nơi có những bức tượng của các ngài Hộ pháp Kim cang canh giữ, một không gian mở ra thoáng rộng đầy rêu phong của sân chùa càng gợi lên một cảm giác như đang được trở về với quá khứ, trở về với “bản lai diện mục” của chính mình. Có lẽ,chỉ có ở chùa Linh Mụ mới có một cái sân trước Phật điện rộng mênh mông đến như thế. Bước vào Phật điện, bắt gặp đức Phật Di lặc tạc bằng đồng ngồi một mình, áo phanh hở ngực, bụng phệ ngay giữa gian trước với nụ cười Hỉ,Xả như đã rũ bỏ tất thảy mọi tục lụy. Chỉ với nụ cười này thôi cũng đủ để cho ta thấy nhẹ lòng khi đến với chốn thiền môn. Có Hỷ,Xả chúng ta mới có thể nở được nụ cười vui tươi chân thật và hạnh phúc đến như vậy... Sự thâm nghiêm và cổ kính của Phật điện còn làm cho lòng tôi tự nhiên phải lắng lại, để rồi được thấy nhẹ nhàng thảnh thơi hơn trong cõi huyền hoặc, không còn có những ưu tư về cuộc đời và thân phận...Cũng ở nơi này,không chỉ một lần Bà Mụ linh thiêng đã chỉ cho chúa Nguyễn Hoàng nơi đóng đô, lập nên một triều đại nhà Nguyễn ở Đàng trong, mà hơn thế đã còn chỉ cho biết bao thân phận khác hướng tới tâm thiện, lòng từ bi để sống tốt hơn trong cuộc sống này...
Giờ đây, khi đời sống kinh tế đã phần nào đỡ hơn thuở ấy, nhưng áp lực của công việc mưu sinh cũng chẳng giảm đi được là bao bởi những toan lo khác...Nhất là từ khi đất nước đổi mới, tự nhiên tôi thấy người ta lại rủ nhau đi đến chùa thật nhiều, đặc biệt là tới các ngôi chùa cổ...Người đi chùa giờ đây đến với chùa trong những tâm thế rất khác nhau và cũng từ những ngày đó không khí sinh hoạt ở chốn thiền môn bắt đầu có cái gì đó khang khác, không còn vẻ u tịch vắng lặng như ngày nào nữa...
Nhưng kỳ thực, vẻ đẹp của những ngôi chùa cổ kính như Linh Mụ có từ năm 1601, Báo Quốc (1674), Từ Ðàm (1683), Thuyền Tôn (1709), Phước Thọ Am (1831), Từ Hiếu (1843), Diệu Ðế (1844)...đã hấp dẫn con người ta trong những cuộc “Hành hương tâm linh” khi tìm về với quá khứ thì những ngôi chùa mới được tạo lập sau này lại hút hồn con người ta ở trong một hành trình khác... “Hành trình đến với thực tại..!” và Chùa Huyền Không Sơn thượng là một ngôi chùa như vậy.!
Vốn nơi đây là một vùng rừng núi hoang vu do Nhà nước giao đất giao rừng cho nhà chùa khai hoang, trồng rừng và bảo vệ...nhưng đã được Thượng tọa Giới Ðức, bút hiệu Minh Đức Triều Tâm Ảnh, khai sơn và tạo dựng từ năm 1989...
Khi cơn bão kinh tế thị trường vừa bắt đầu ào tới Huế, theo chân thi sĩ “Phương xích lô”, tôi lên đây chơi với một tâm thế như chỉ là một cuộc thư giãn tâm hồn bởi rất nhiều lẽ. Chùa lúc đó quả thực còn rất đơn sơ, chỉ là một ngôi Thảo am có cái tên thật thơ mộng là “Phong Trúc Am”, nơi tá túc và an nghỉ cúa sư Giới Đức. Hơn nữa, ở nơi đây còn có một nhà thơ Thiền, nhà thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh...mà những bài thơ Thiền của Thầy đã vượt ra khỏi cánh rừng để đi đến mọi nẻo trên đất nước này…
Đến bây giờ, dẫu vẫn chưa được khang trang to lớn như những ngôi chùa khác, nhưng Huyền Không Sơn thượng lại có một không gian vườn, rừng, núi thật huyền ảo. Chùa ở đây được kiến tạo với một Chánh điện giản dị bằng gỗ, mái ngói trông rất hiền hoà và thanh thoát, lại vừa mộc mạc dựa trên nền xanh hùng vĩ của núi rừng. Trong một không gian, vừa thôn dã, vừa rất lãng mạn và như hoà lẫn vào với thiên nhiên, chợt nhiên bắt gặp một cặp câu đối viết theo lối thư pháp treo trước Phật điện đã làm cho con người tôi nhẹ bỗng đi và tâm hồn tôi như chợt nhận cảm ra một chân lý nào đó vừa ập tới:

Nghe Đạo, hương rừng theo gió đến
Đọc Thơ, trăng sáng vượt non về.*

Cái khoảnh khắc nhẹ bỗng chợt nhiên ấy dường như đã thức dậy trong con người tôi một luồng điện cảm thật lạ, giống như khi đang tự nhận thức được chính tâm hồn mình và chỉ với riêng mình…!
Khiêm nhường về tầm vóc và sự bề thế của Phật điện Huyền Không Sơn thượng làm tôi thấy Đạo Phật sao mà thật gần gũi với nhân gian với con người đến vậy. Vườn cảnh Huyền Không như là một điểm nhấn về sự giao cảm giữa con người với thiên nhiên trời đất và được nâng lên thành nghệ thuật đặc sắc của một lối kiến tạo về cái đẹp. Mỗi công trình ở đây đều sử dụng chất liệu từ tranh, tre, nứa, lá, gỗ... mộc mạc, dung dị nhưng tất cả đều toát lên bản sắc của văn hoá dân tộc, văn hóa nhà vườn của xứ Huế. Dù cũng chỉ là do sự sắp xếp của bàn tay con người, nhưng với một ý thức lấy thiên nhiên làm chủ, dựa vào cảnh quan chung để kiến tạo và tìm trong cái hài hòa của thiên nhiên để làm thành cái hài hòa của kiến trúc, sư thầy Minh Đức đã biến nơi này trở thành một nơi có sức hút rất lạ kỳ.
Ở vườn cảnh của Huyền Không còn có rất nhiều hoa cỏ đủ loại với hương thơm phảng phất xa gần của các loại thảo mộc quý được đưa về trồng ở đây. Cùng với những giò phong lan trên cao,bên dưới là những chậu cây cảnh, cội mai già, tùng bách bên lối cỏ đầy rêu phong và những khóm Địa Lan khoe vẻ đẹp tao nhã thật hoang sơ. Kể cả mỗi một hòn đá được đem về đặt ở nơi đây cũng mang được những tiếng nói rất riêng trong vẻ đẹp xù xì góc cạnh của mình. Trong một lần tôi đưa PGS.TS Tôn Đại lên thăm chùa, PGS.TS đã gọi nơi đây chính là một “Bài thơ về Kiến trúc phong cảnh”...
Đến với Huyền Không Sơn thượng là đến với cái vĩnh hằng của sự sống, của cái đẹp. Và ở đây tôi cũng đã tìm thấy được sự bằng an thanh tịnh của lòng mình :

Dấu chân thiền vẽ con đường
Mai kia mốt nọ yêu thương bụi vàng.*



Trần gian trăm việc tạm quên
Thơ đề góc núi đầy hiên nắng vàng
Gió trăng thế sự không bàn
Giấc thiền lặng lẽ nhẹ nhàng tình không!*

Những dòng thơ,mỗi con chữ trong “Huyền Không Sơn Uyển” dường như lại thêm một sự níu giữ khác cho bước chân của những lữ khách đã từng tới đây không muốn rời khỏi chốn non thiền cao xanh này. Ẩn dụ trong những dòng thơ bay cùng dáng chữ,nét bút ấy của Nhà sư Nghệ sĩ như là một sự hành thiền đã lắng lại sự trong sáng,thanh thản vốn có trong tận đáy sâu tâm hồn ở mỗi con người. Với bức tranh cảnh trí non ngàn ấy, nơi này không thể mang cái tên nào khác ngoài hai chữ Huyền Không!
Thu 2008
Lãng Hiển Xuân
(*)Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh.